DJC

Đã đánh giá tài liệu

Cảm ơn bạn đã phản hồi

Giới thiệu Thân Tộc Việt Nam

Tài liệu miễn phí

GIỚI THIỆU THÂN TỘC VIỆT NAM

Trong số hàng trăm tộc họ đang hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam có một dòng họ rất đặc biệt, đã tồn tại ở nước ta khoảng 1.000 năm trước, từ vùng đất khởi nguyên là Bắc Giang. Đó chính là dòng họ Thân.

Họ Thân Việt Nam ngày nay vốn xuất phát từ họ Giáp. Chuyện kể rằng, cụ Thủy tổ của họ Thân tên thật là Giáp Thừa Quý, là chúa Động Giáp ở Lạng Châu (phía Bắc tỉnh Bắc Giang và phía Nam Ải Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay). Cụ Giáp Thừa Quý được Vua Lý Thái Tổ gả con gái cho và trở thành Phò mã của triều đình nhà Lý. Nhân sự kiện đó, nhà vua đã đổi tên họ của ông, từ họ Giáp (甲) thành họ Thân (申). Họ Thân ra đời từ đó.

Từ một nguồn gốc ban đầu là cụ Thân Thừa Quý, con cháu họ Thân dần tỏa đi khắp nơi, sinh sôi, phát triển nòi giống thành hàng trăm nhánh nhỏ. Xuất phát từ cái nôi của dòng họ ở Bắc Giang và Nam Lạng Sơn, người họ Thân đã di chuyển xuống vùng đồng bằng sông Hồng, lan vào Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, vào Thừa Thiên - Huế, vào Đà Nẵng, Quảng Nam rồi vào đến một số tỉnh, thành phố Nam bộ và hình thành nên các chi họ mới, mang những tên đệm khác nhau như Thân Đức, Thân Văn, Thân Mạnh, Thân Duy, Thân Nhân… Sự di cư về phương Nam của họ Thân gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi của dân tộc, công cuộc khai phá đất đai và bảo vệ chủ quyền quốc gia của các triều đại phong kiến. Cũng trong quá trình lịch sử đó, dòng họ đã sản sinh ra nhiều hiền tài cho đất nước, tạo dựng nên các giá trị to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục, lập nhiều công trạng lớn đối với sự hưng thịnh của các triều đại…

Không khó để gọi tên những danh nhân kiệt xuất của họ Thân trong lịch sử. Ngay từ lúc sơ khai hình thành, họ Thân đã xuất hiện ba vị Phò mã triều Lý có công giúp Vua Lý giữ vững miền biên cương phía Bắc đất nước, tạo nên danh tiếng của dòng họ. Bắt đầu từ cụ tổ Thân Thừa Quý, rồi đến con của cụ là Thân Thiệu Thái và đặc biệt, người cháu của cụ là Thân Cảnh Phúc là một anh hùng dân tộc đã anh dũng hy sinh trong kháng chiến chống Tống xâm lược, được nhân dân suy tôn là “Động Giác Thiên Thần”. Họ Thân sau này còn rất nhiều người nổi tiếng như Thân Công Tài - người phát triển kinh tế xứ Lạng; Thân Văn Nhiếp, Thân Trọng Tiết, Thân Đức Luận... đều là những người tài đức, có công trạng trên nhiều lĩnh vực ở các triều đại. Đặc biệt, nói đến họ Thân thì không thể không nhắc đến Đại học sĩ Thân Nhân Trung với câu nói bất hủ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Thân Nhân Trung thi đỗ Tiến sĩ năm 1469. Năm 1484, ông phụng chỉ Vua Lê Thánh Tông lập “Bia Tiến sĩ” đặt trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám để vinh danh các nhà khoa bảng của nước nhà và câu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” đã được khắc trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên. Sau này, những người con của Thân Nhân Trung là Thân Nhân Tín, Thân Nhân Vũ cũng đều đỗ Tiến sĩ. Đời cháu của ông cũng nối nhau phát dòng khoa bảng và trở thành một chi họ Thân nổi tiếng về tài học của nước nhà.

Ngày nay, dòng họ Thân đã có mặt ở rất nhiều tỉnh thành trên cả nước và cho dù ở bất kỳ phương trời nào, những người họ Thân vẫn không bao giờ quên đi cội nguồn nguyên thủy của mình:

“Tộc Thân ta đời đời nghe tiếng gọi

Của tiền nhân tiên liệt mãi vọng về

Tỉnh Bắc Giang đất tổ cách sơn khê

Miền Lục Ngạn, Lục Nam là cố thổ…”

Các lớp thế hệ con cháu họ Thân ngày nay đã và đang tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của tiên tổ, phát triển danh tiếng của dòng họ và viết tiếp nên những trang sử vàng của đất Việt.

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ THÂN VIỆT NAM

Nguồn gốc hình thành

Nguồn gốc của họ Thân bắt đầu từ những vị tổ đầu tiên của họ Thân là các Phò mã nhà Lý. Sử cũ chép rằng, năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên nhà Lý, dựng quốc đô ở Thăng Long để tạo lập một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của quốc gia Đại Việt. Nhà Lý ra đời khi nước ta mới thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc chưa lâu và vừa mới trải qua cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 981, nên việc bảo vệ bờ cõi trước sự lăm le của các thế lực ngoại xâm phương Bắc là mối quan tâm hàng đầu của triều đình. Hơn nữa, biên giới phía Bắc lại là khu vực dễ bị “tổn thương”, vì vùng biên viễn này có vị trí chiến lược trọng yếu trong các cuộc chiến tranh vệ quốc nhưng lại ở xa kinh đô, ảnh hưởng của triều đình còn chưa sâu đậm, đứng đầu chính quyền châu huyện địa phương vẫn đang là các tù trưởng cha truyền con nối và rất dễ bị quân giặc lôi kéo, dụ dỗ. Do đó, việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các khu vực tập trung đông đảo các cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Đông Bắc Đại Việt trở thành yêu cầu khẩn thiết.

Để thực hiện sách lược chiêu an các tù trưởng, thổ ty trung thành với triều đình và gắn kết tình đại đoàn kết toàn dân, các vua triều Lý đã thực hiện chính sách liên minh bằng hôn nhân, gọi là chính sách “Ky mi”, nghĩa là kết thông gia với các châu mục phía Bắc. Theo đó, Vua Lý sẽ gả các Công chúa, con gái của mình cho các tù trưởng để họ trở thành một bộ phận của hoàng tộc, từ đó họ sẽ trung thành, chiến đấu hết mình cho triều đình.

Lúc đó, Động Giáp là vùng đất rất rộng lớn thuộc phía Bắc tỉnh Bắc Giang và ải Chi Lăng ở Nam Lạng Sơn là một vùng trọng yếu. Đây là vùng “phên dậu” phía Đông Bắc của đất nước và là con đường huyết mạch từ kinh đô Thăng Long lên vùng biên giới Đông Bắc. Cai quản Động Giáp là Giáp Thừa Quý, một tù trưởng người dân tộc Tày. Gọi là Động Giáp vì xưa kia mọi người trong vùng đều mang họ Giáp. Với vị trí tối quan trọng của Động Giáp cùng uy tín rất lớn của Giáp Thừa Quý trong cộng đồng dân chúng nơi đây, để tăng mối thân tình, Vua Lý Thái Tổ đã gả Lĩnh Nam Công chúa Lý Thị Bảo Hòa cho Giáp Thừa Quý. Đồng thời, nhà Vua cũng đổi họ cho Phò mã từ họ Giáp sang họ Thân, bằng việc ban thêm cho một nét chữ vào chữ Giáp (甲) để trở thành chữ Thân (申). Ý nghĩa của việc đổi sang họ Thân để nói lên ý nghĩa tình thân ái đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam và để phân biệt hoàng thân quốc thích với tầng lớp bình dân. Tù trưởng Giáp Thừa Quý thành Phò mã Thân Thừa Quý, được Vua phong giữ chức Châu mục Lạng Châu cai quản và bảo vệ vùng đất Đông Bắc của Tổ quốc. Như vậy, cụ Giáp Thừa Quý chính là Thủy tổ của dòng họ Thân Việt Nam.

Con trai của cụ Thân Thừa Quý là Thân Thiệu Thái nối nghiệp cha tiếp tục cai quản Lạng Châu. Năm 1029, ông được Vua Lý Thái Tông gả con gái là Công chúa Bình Dương Lý Thị Giám, trở thành Phò mã họ Thân đời thứ hai của nhà Lý. Năm 1066, con của Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc cũng được Vua Lý Thánh Tông gả con gái là Công chúa Thiên Thành Lý Thị Cảnh. Đây là vị phò mã thứ ba của tộc Thân dưới triều đại nhà Lý. Từ đó, dân Động Giáp phần nhiều đã đổi sang họ Thân để ghi ơn Vua và Bắc Giang chính là đất tổ của dòng họ. Từ đó, họ Thân trở thành chỗ dựa tin cậy của triều đình, góp phần củng cố biên giới từ Ải Nam Quan đến thung lũng sông Lục Nam trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Lịch sử phát triển của dòng họ Thân Việt Nam

Ngay từ thuở ban sơ hình thành, dòng họ Thân đã trực tiếp góp công vào sự nghiệp giữ nước của dân tộc. Lạng Châu do tổ tiên họ Thân là cụ Thủy tổ Thân Thừa Quý và con trai Thân Thiệu Thái cai quản đã trở thành một tấm lá chắn vững chắc bảo vệ kinh thành Thăng Long ở phía Đông Bắc, giúp nhân dân yên ổn làm ăn, góp phần tạo nên cảnh thái bình thịnh trị đầu thời Lý.

Cháu nội của cụ Thân Thừa Quý là Thân Cảnh Phúc cũng nối nghiệp ông và cha cai quản Lạng Châu. Ông là niềm tự hào lớn của dòng họ khi trở thành vị anh hùng dân tộc, góp công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược lần thứ hai. Sử cũ chép rằng, năm 1075, nhận được tin báo nhà Tống đang chuẩn bị xâm lược nước ta, Thái úy Lý Thường Kiệt đưa ra phương châm “Tiên phát chế nhân”, quyết định dẫn 10 vạn đại quân tấn công sang đất Tống để đánh phá các thành trì là những kho lương thảo mà nhà Tống chuẩn bị cho cuộc xâm lược để bước đầu làm phá sản kế hoạch của kẻ thù. Trong cuộc Bắc tiến này, Thân Cảnh Phúc cùng với các tù trưởng người dân tộc miền núi phía Bắc lãnh nhiệm vụ chỉ huy bộ binh đánh thẳng lên thành Ung Châu, phối hợp với đạo thủy quân do Thái uý Lý Thường Kiệt lãnh đạo để hạ thêm hai thành Khâm Châu và Liêm Châu, khiến cho mọi sự chuẩn bị của nhà Tống bị đánh sập.

Mùa xuân năm 1077, 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy, theo đường ải Nam Quan, Lạng Sơn ồ ạt tấn công Đại Việt. Tới khu vực ải Chi Lăng, quân Tống gặp sự kháng cự quyết liệt của dân quân Động Giáp do Thân Cảnh Phúc chỉ huy. Sau đó, ông cho quân rút vào rừng, thực hiện kế vườn không nhà trống, tổ chức các trận tập kích nhằm tiêu hao sinh lực quân Tống, quấy rối vùng sau lưng của chúng, góp phần làm chậm sức tiến công của quân Tống, giúp cho quân đội chính quy của nhà Lý do Lý Thường Kiệt chỉ huy chặn được quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Tướng giặc phải thừa nhận tài năng của Thân Cảnh Phúc và đội dân binh giàu lòng yêu nước, chiến đấu gan dạ của ông: “Thân Cảnh Phúc đều cầm cường binh… Thấy quân Tống đi lẻ loi thì ra giết chết hoặc bắt về. Người đó quả là một vị thiên thần”. Đó chính là lối đánh du kích trứ danh trong nghệ thuật chiến đấu của người Việt, và Thân Cảnh Phúc được xem là ông tổ của chiến thuật đánh du kích. Sau này, người dân ghi nhớ công ơn nên đã lập đền thờ Thân Cảnh Phúc ở nhiều nơi và gọi ông là “Thiên thần Động Giáp”.

Trải qua quá trình mở rộng lãnh thổ của nước Việt, dòng họ Thân cũng dần mở rộng địa bàn sinh sống của mình đến mọi miền Tổ quốc. Các lớp thế hệ người họ Thân đã cùng với bách gia trăm họ tiến hành công cuộc Nam tiến, lập nên các thôn làng, an cư ở những vùng đất mới và tạo nên những chi nhánh mới của dòng họ.

Trong quá trình mở mang về phương Nam, vào năm 1306 triều đình nhà Trần đã cử một vị quan họ Thân là Thân Đại Lang vào cai quản vùng đất từ Nam sông Gianh đến đèo Hải Vân tạo nên một cộng đồng họ Thân đầu tiên ngoài đất tổ Bắc Giang. Dòng họ đó đã định cư được hơn bảy thế kỷ ở xã An Lỗ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay. Đến đời Hồng Đức thứ nhất, tức năm 1470 triều Vua Lê Thánh Tông, sau khi đã bình định vùng Chiêm Động, Cổ Lũy và Đồ Bàn, nhà vua đã cử tướng Thân Phước Cẩm ở lại cai quản, đặt tên cho vùng đất mới này là đạo Quảng Nam, kéo dài từ đèo Hải Vân đến thành Đồ Bàn (Bình Định ngày nay). Một vùng đất khác ở tỉnh Bình Định thì được giao cho tướng Thân Văn Ngôn phụ trách. Cộng đồng Thân tộc thứ hai tại Quảng Nam và Bình Định ra đời từ thời điểm đó. Dưới sự lãnh đạo của các cụ Thủy tổ chi họ Thân Đại Lang và Thân Văn Ngôn, dòng họ Thân ở nơi đây và nhân dân các dòng họ khác đã tích cực lao động sản xuất, không ngại đổ mồ hôi, xương máu để biến một vùng đất hoang vu ác địa, lắm hùm beo thú dữ trở thành một thị tứ đông vui, ngựa xe tấp nập ngược xuôi, phố chợ đầy ắp hàng hoá, lúa trải vàng sân, nhà nhà no ấm.

Trong khi đó, ở phía Bắc, tại kinh thành Thăng Long đã xuất hiện một danh nhân văn hóa, một nhà giáo dục lỗi lạc, người đã có công mở mang nghiệp khoa cử của gia đình, dòng họ. Đó chính là Tiến sĩ Thân Nhân Trung. Ông từng giữ chức Thượng thư bộ Lại, cơ quan quản lý việc phong tước, bổ nhiệm quan lại cho triều đình. Vốn là người có tài tổ chức, lại là thành phần trong ban giám khảo của các kỳ thi tuyển lựa nhân tài, Tiến sĩ Thân Nhân Trung đã tiến cử, lựa chọn ra những người đủ tài đủ đức để phục vụ triều đình dưới thời Vua Lê Thánh Tông, góp phần tạo nên thời kỳ “Hồng Đức thịnh thế” vang danh sử Việt. Ông là người được chọn để viết bài văn trên tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trong đó có câu nói nổi tiếng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết”. Câu nói ấy đã nêu bật được tầm quan trọng của giáo dục nhân tài đối với sự hưng thịnh của đất nước và trở nên bất hủ, còn nguyên giá trị đến thời đại ngày nay. Tiến sĩ Thân Nhân Trung còn giữ chức Phó soái hội Tao Đàn, nơi tập hợp 28 vị tinh tú là những nhân sĩ văn chương tài hoa nổi tiếng bậc nhất thời bấy giờ. Ngoài ra, góp phần tạo nên truyền thống hiếu học của dòng họ còn có gia đình Tiến sĩ Thân Khuê (1593-1638), quê làng Phương Độ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, ba đời liên tục đều đỗ tiến sĩ và là nhà ngoại giao…

Công cuộc khai hoang, mở cõi của dòng họ Thân còn tiếp diễn. Hơn 600 năm sau, Hán Quận Công Thân Công Tài cai quản xứ Lạng Châu, ông là một nhà kinh tế, quân sự lỗi lạc trong thế kỷ XVII, người đã có công mở mang bờ cõi vùng biên cương phía Bắc, tổ chức giao lưu buôn bán với Trung Quốc và được coi là ông tổ của ngành ngoại thương Việt Nam. Ở Gia Định có vị Tổng đốc Thân Văn Tường là người xây dựng chi phái họ Thân ở Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Thân Đồng, vị Thủy tổ của họ Thân Hà Tiên, cùng với con trai là Thân Đỗ Ngạc đã đưa gia quyến vào Hà Tiên lập nghiệp, khai sinh họ Thân Hà Tiên.

Không chỉ có công mở mang bờ cõi, phát triển văn hóa giáo dục, họ Thân còn là một dòng họ anh hùng, có truyền thống yêu nước bất khuất với nhiều tấm gương xả thân vì nước vì dân.

Ở Huế, hàng bao đời nay, nhân dân vẫn luôn kính phục lòng yêu nước của hai cha con nhà yêu nước Thân Văn Nhiếp và Thân Trọng Huề. Cả hai ông đều làm quan vào thời thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, trong một tình thế ngặt nghèo, không phải ai cũng giữ được tư cách kẻ sĩ, không khuất phục trước cường quyền, biết tìm cơ hội làm những điều ích nước lợi dân. Ông Thân Văn Nhiếp làm quan trong triều đã trải qua các chức vụ như Bố Chánh Quảng Nam (1858), Thị Lang Bộ Binh, Hiệp tán quân thứ Biên Hoà và có tinh thần kháng Pháp rất cao. Ông đã mạnh mẽ phản đối tư tưởng chủ hòa của triều đình, tìm mọi kế sách chặn bước quân xâm lược. Khi Pháp tấn công Hòa Vang, ông đã lãnh đạo đội dân binh chống giặc. Thân Văn Nhiếp chủ trương tránh đối đầu với sức mạnh buổi đầu và vũ khí tối tân của giặc, buộc chúng phải đánh lâu dài, ông đã vận động nhân dân để vườn không nhà trống, sơ tán khỏi các làng ven biển Hoà Vang để cô lập, triệt nguồn tiếp tế lương thực của địch; làm chướng ngại vật ngăn đường sông để phòng tàu chiến địch tiến vào Hội An… Khắp nơi, những đội dân quân được thành lập, tiến hành đánh địch theo quy mô nhỏ, bằng thuyền nhỏ, tập kích tiêu hao sinh lực địch. Với chiến thuật hợp lý, sau năm tháng tiến công, địch không lấn thêm được bước nào và chúng đã chuyển hướng cuộc chiến vào Nam Bộ. 

Noi gương thân phụ, ông Thân Trọng Huề cũng là một vị quan thanh liêm, đức độ trong triều. Ông từng giữ chức Thượng thư Bộ Học kiêm Bộ Binh, đã có công góp phần thúc đẩy việc cải cách thi cử, trọng thực học, đặc biệt, ông đã buộc nhà đương cục Pháp phải ký vào văn kiện lịch sử công nhận lãnh thổ Việt Nam bao gồm quần đảo Hoàng Sa mà gần đây chúng ta vừa tìm được bản gốc để công bố trước thế giới thêm một bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Vốn là người am hiểu chữ Hán và Pháp ngữ, ông đã tổ chức sáng lập nên Hội Khai trí tiến đức ở Hà Nội vào 1919 và viết nhiều bài báo tiến bộ nhằm đề xuất những cải cách về văn hoá - xã hội, vạch trần tệ tham nhũng của quan lại đương thời…

Dưới triều Nguyễn còn có Phò mã Thân Văn Di, khi tiếng súng Cần Vương của Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết vang lên, ông đã không ngại rời bỏ cuộc sống yên vui chốn kinh thành để cùng với nhà vua và nghĩa quân chiến đấu nơi rừng núi Quảng Trị, tỏ rõ tinh thần không chịu khuất phục làm tay sai cho giặc.

Trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX còn có sự góp mặt của chí sĩ yêu nước Thân Bá Phức. Ông đã tham gia các đội quân khởi nghĩa ở Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hưng Yên, Lạng Sơn, rồi sau đó trở về quê gia nhập nghĩa quân Yên Thế cùng Lương Văn Nắm (tức Đề Nắm), Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám).

Đến thời hiện đại, người họ Thân có quyền tự hào khi dòng họ tiếp tục có những tên tuổi yêu nước, có công với cách mạng. Bác sĩ Thân Trọng Phước (1902-1960) là một trí thức sớm đến với cách mạng, từ lúc làm ở Bệnh viện Vinh, ông là một trong những thành viên sáng lập và cung cấp kinh phí cho Đảng Tân Việt - một tổ chức yêu nước ở nước ta đầu thế kỷ XX. Sau này, khi vào Huế, trong hoàn cảnh phải sống ở vùng địch tạm chiếm, ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản và sinh hoạt trong Chi bộ trí thức với một số nhân vật nổi tiếng khác ở Huế như Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ… Dưới vỏ bọc là chủ một phòng khám riêng, ông đã trực tiếp giúp đỡ nhiều đồng chí cách mạng hoạt động bí mật trong thành phố, là nơi lui tới của nhiều nhà yêu nước. Ông còn tiếp tế thuốc men và cứu chữa người bị thương. Khi đất nước bước vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc Pháp và giặc Mỹ, họ Thân đã sản sinh ra người Anh hùng Thân Trọng Một - một chiến sĩ can trường, được Tổ quốc ghi công. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 20 tuổi, Thân Trọng Một đã hăng hái xin nhập ngũ vệ quốc quân, thuộc Trung đoàn 101 chiến đấu chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Bằng lối đánh du kích lợi hại, đội quân do Thân Trọng Một chỉ huy đã lập nhiều chiến công, khiến kẻ địch phải khiếp sợ và ông được đồng đội trong quân ngũ kính phục bởi tinh thần gan dạ, dũng cảm. Trong chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, ông là chỉ huy trưởng đoàn Năm được phân công nhiệm vụ dẫn cánh quân Nam sông Hương đánh vào nội thành Huế. Ông đã nêu cao quyết tâm “Dù phải hy sinh một phần ba lính đặc công của đoàn Năm cũng phải diệt cho được trung đoàn xe tăng”. Nhờ sự tính toán kỹ lưỡng, khéo léo của chỉ huy các cấp do Thân Trọng Một làm trưởng đoàn, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn xe tăng địch, làm bàn đạp cho các cuộc tấn công địch kế tiếp. Anh hùng Thân Trọng Một đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và tên ông đã được đặt cho một con đường ở thành phố Huế. Cảm phục trước tinh thần yêu nước, anh dũng của ông, nhà văn Nguyễn Quang Hà đã viết cả một cuốn sách có tựa đề Thân Trọng Một - con người huyền thoại kể về cuộc đời của ông.

Với quá trình phát triển trùng khớp với lịch sử hình thành Kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội, dòng họ Thân đã anh dũng chiến đấu, đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển của dân tộc trong mọi bước đường lịch sử. Những công lao, cống hiến của những người họ Thân đã viết nên những trang sử vàng với nhiều thành tựu rực rỡ và dòng họ Thân sẽ luôn sáng mãi trong cộng đồng các tộc họ Việt, để cho con cháu đời sau và nhân dân Việt Nam luôn tự hào, hãnh diện.

Tổng quan về dòng họ Thân Việt Nam

39 Lượt xem
other
Tặng đá Báo cáo
Chia sẻ

Ý kiến (0)