để tặng cho tác giả tài liệu này
Đã đánh giá tài liệu
Cảm ơn bạn đã phản hồi
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà cung cấp: Nhiều nguồn
Tất cả con cháu họ Dương & cộng đồng
Họ Dương là dòng họ phổ biến thứ 13 ở nước ta, chiếm khoảng 2% dân số cả nước. Khởi phát từ vùng đất Kinh Bắc, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, họ Dương đã tô thắm những trang sử vàng son của lịch sử dân tộc bằng những công trạng lớn lao đối với đất nước. Đó là những lần họ Dương lãnh đạo các cuộc đấu tranh vệ quốc của dân tộc, bên cạnh truyền thống hiếu học đáng tự hào của dòng họ đã trở thành kim chỉ nam để con cháu họ Dương đời đời phấn đấu; hay những danh nhân họ Dương với nhiều giai thoại thú vị đã đi vào sử sách, in sâu trong tiềm thức dân gian. Ngày nay, tiếp nối truyền thống cha ông, người họ Dương đã và đang tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quê hương, thực hiện đúng theo di nguyện của Bác Hồ là đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu.
GIỚI THIỆU DƯƠNG TỘC VIỆT NAM
Trong cộng đồng bách gia trăm họ của người Việt, họ Dương là một trong những dòng họ lớn, xuất hiện từ sớm và có đóng góp công sức trong công cuộc lập làng dựng nước, đánh đuổi ngoại xâm, gìn giữ biên cương, bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc. Không chỉ có mặt ở Việt Nam, họ Dương còn rất phổ biến ở các nước Á Đông như Trung Quốc, Hàn Quốc và có rất nhiều tên tuổi lừng lẫy được lưu danh trong sử sách.
Lịch sử của họ Dương Việt Nam bắt đầu từ thời các Vua Hùng lập nước Văn Lang. Ngay từ buổi đầu ban sơ của đất nước đã xuất hiện một người họ Dương, đó là cụ Dương Minh Tiết. Cụ Dương Minh Tiết là Lạc tướng dưới thời Hùng Vương thứ nhất, có công giúp Vua Hùng xây dựng bộ máy nhà nước Văn Lang. Đến đời Hùng Vương thứ sáu xuất hiện Lạc tướng Dương Minh Thắng, người được Vua Hùng giao trấn giữ bộ Vũ Ninh để đánh dẹp giặc Ân khi chúng xâm lăng. Khi giặc tan, cụ vâng mệnh Vua ở lại đất Vũ Ninh, chiêu mộ dân chúng, lập làng dựng ấp, củng cố lực lượng canh chừng giặc giã, bảo vệ đất nước. Từ đó, họ Dương bắt đầu phát triển và ở thời kỳ nào, dòng họ này cũng sản sinh những con người ưu tú có nhiều đóng góp cho đất nước.
Một đặc điểm nổi bật khi nói về họ Dương đó là truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Bằng chứng là trong suốt hơn 1.000 năm Bắc thuộc, dưới chế độ cai trị hà khắc của các triều đại phong kiến phương Bắc, các cuộc đấu tranh của người Việt liên tiếp nổ ra, trong đó, có đến bốn lần người họ Dương tham gia lãnh đạo trong các cuộc khởi nghĩa lớn, nhiều hơn bất cứ dòng họ nào. Đầu tiên là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở những năm đầu Công nguyên. Có một chi tiết lịch sử không nhiều người biết, đó là chồng của Trưng Nữ Vương Trưng Trắc là Thi Sách vốn mang họ Dương. Ông đã cùng với vợ và hai bên gia đình tích cực chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy, chiêu binh mãi mã, chờ dịp đánh đuổi giặc Hán. Tiếc thay, đại sự chưa bắt đầu thì Thi Sách đã bị Tô Định ám sát. Tiếp đến là cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh ở đầu thế kỷ IX chống lại nhà Đường. Lần thứ ba họ Dương nắm quyền lãnh đạo nhân dân là vào năm 931, Dương Đình Nghệ thống lĩnh ba quân, đánh bại quân Nam Hán, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ mà dòng họ Khúc đã giành được từ năm 905. Dương Đình Nghệ lại có một người con trai là Dương Tam Kha, cùng người con rể Ngô Quyền. Sau đó, chính hai người con của ông đã lập mưu cắm cọc nhọn, nhấn chìm đạo quân xâm lược của nhà Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt hoàn toàn thời kỳ “Ngàn năm Bắc thuộc”, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của đất nước. Trong đó, Ngô Quyền là vị chủ tướng tối cao, anh hùng dân tộc tiêu biểu, còn Dương Tam Kha trở thành khai quốc công thần của nhà Ngô, triều đại phong kiến độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó cũng chính là lần thứ tư họ Dương đứng trên vũ đài chính trị, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh vệ quốc.
Truyền thống hào hùng đó đã được hậu duệ họ Dương kế thừa, tiếp tục phát huy trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc là kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Trong thời khắc nguy nan của đất nước, ý thức trước vận mệnh quốc gia, nhiều người họ Dương đã tích cực tham gia cách mạng, nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường chiến đấu trên các chiến trường. Rất nhiều người đã trở thành tướng lĩnh, chỉ huy trong lực lượng vũ trang hay lãnh đạo nhân dân địa phương tham gia kháng chiến, nhiều bà mẹ anh hùng họ Dương đã tảo tần chu toàn việc nhà, trở thành hậu phương vững chắc để động viên chồng, con yên tâm chiến đấu nơi tiền tuyến. Những sự hy sinh anh dũng của con cháu họ Dương đã được đền đáp bằng sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, tự do của Tổ quốc, xương máu của họ đã hòa cùng đất, cùng nước để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Họ Dương cũng là một dòng họ mang “Chân mệnh thiên tử” khi đã có nhiều người lên ngôi vị cao nhất để cai trị đất nước. Nếu tính cả Dương Đình Nghệ, người từng giữ chức Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ, thì có đến bốn lần họ Dương lên ngôi trong lịch sử nước Việt. Dương Đình Nghệ mặc dù không xưng vương nhưng trên thực tế, ông là người đứng đầu đất nước vào thời điểm đó. Người thứ hai là con trai Dương Đình Nghệ - Dương Tam Kha. Sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha đã xưng là Dương Bình Vương, cai quản nước Việt, ông đã giữ chính sự đất nước ổn định, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, nhất là ở các vùng Chương Dương và Cổ Lễ. Đến thời nhà Lý, vị vua thứ năm của vương triều này là Lý Thần Tông, tên thật là Dương Hoán. Tương truyền, ông vốn là người họ Dương, được Vua Lý Nhân Tông nhận làm con nuôi nên được mang họ Lý và sau đó được truyền ngôi báu. Đến thời nhà Trần đã xuất hiện một nhân vật là Dương Nhật Lễ, người được Vua Trần Dụ Tông di chiếu truyền ngôi và cai trị Đại Việt trong khoảng thời gian hơn một năm, hiệu là Hôn Đức Công.
Không chỉ tài giỏi, anh dũng, họ Dương cũng vang danh thiên hạ về truyền thống hiếu học. Trong thời kỳ phong kiến độc lập, người họ Dương đã nhiều lần ghi danh trên bảng vàng thi cử, trở thành những danh thần, trụ cột triều đình đóng góp công sức cho đất nước. Theo số liệu thống kê thì có tới 21 người họ Dương được ghi danh trên văn bia ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám; trong lịch sử khoa cử nước nhà từ triều Lý đến triều Nguyễn thì có tới 57 người họ Dương đỗ đại khoa, trong đó có 02 Trạng nguyên, 15 Hoàng giáp, 05 Phó bảng và 35 Tiến sĩ. Các tên tuổi tiêu biểu như Lưỡng quốc Trạng nguyên Đào Sư Tích gốc họ Dương, Trạng nguyên Dương Phúc Tư. Nhiều tiến sĩ họ Dương sau khi đỗ đạt được triều đình trọng dụng, làm quan đến chức Thượng thư, được cử đi sứ để mở rộng bang giao, giữ vững nền hòa hiếu của đất nước, có thể kể là Dương Duy Nhất, Dương Trí Dụng, Dương Văn An, Dương Thuần, Dương Khuê…
Đến thời hiện đại, trong giai đoạn Việt Nam vươn mình đi lên đã xuất hiện nhiều trí thức, nhà khoa học, doanh nhân họ Dương có những đóng góp xuất sắc cho công cuộc xây dựng đất nước. Họ đã tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha ông, tích cực phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quê hương, thực hiện đúng theo di nguyện của Bác Hồ là đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu.
Như vậy, từ khởi nguyên ở vùng đất Kinh Bắc, trải qua hàng ngàn năm phát triển với những biến động của thời đại, người họ Dương đã đến sinh cơ lập nghiệp ở những vùng đất mới, phát triển nòi giống ngày một đông đảo và đến ngày nay, họ Dương đã có mặt ở khắp các địa phương trên cả nước, trải dài từ Bắc vào Nam với quy mô chiếm khoảng 2% dân số cả nước, đứng thứ 13 trong số các dòng họ phổ biến ở nước ta. Con cháu dòng họ Dương Việt Nam đã và đang phát huy truyền thống vẻ vang của dòng họ, tiếp nối những thành tựu mà các thế hệ cha ông đã dày công vun dựng để ngày càng làm nhiều thêm những đóng góp của dòng họ đối với công cuộc bảo vệ độc lập cũng như xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam giàu đẹp.
NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ DƯƠNG VIỆT NAM
Thời kỳ dựng nước
Truyền thuyết kể lại rằng, từ ngàn năm trước Công nguyên, tổ tiên người Việt đã dựng nên nước Xích Quỷ rộng lớn, phía Bắc vươn tận hồ Động Đình (nay thuộc Hồ Nam, Trung Quốc), phía Nam đến tận nước Hồ Tôn (nay là phía bắc Trung Bộ, Việt Nam), phía Tây tiếp giáp với Ba Thục (nay thuộc Tứ Xuyên, Trung Quốc), phía Đông giáp với Biển Đông. Người đứng đầu nước Xích Quỷ là Lộc Tục đã xưng vương, hiệu là Kinh Dương Vương. Vua kế tiếp là Sùng Lãm, hiệu Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết duyên cùng với Âu Cơ, sinh ra một bọc trứng, tạo ra nòi giống người Việt mà đến ngày nay con dân nước Việt vẫn gọi nhau là “đồng bào” và tự hào rằng mình là “Con Rồng Cháu Tiên”. Những người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã chia ra cai quản các nơi, từ trên núi xuống miền biển, trong đó, người con trưởng đã lập nên nước Văn Lang ở Phong Châu, Phú Thọ, đánh dấu sự ra đời của quốc gia đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, và các dòng họ cũng hình thành từ đây.
Sử sách đã có những ghi chép về những nhân vật nổi tiếng của các dòng họ Lý, họ Nguyễn… Họ Dương cũng ra đời trong thời điểm đó và xuất hiện nhiều bậc tiên liệt được ghi chép cụ thể trong ngọc phả của các chi họ miền Bắc Việt Nam, như Dương Hoằng Nghị, Dương Lôi Đình, Dương Đô Thiên (Ngọc phả thôn An Thái, Bình Lục, Hà Nam); Dương Cảnh Công (Thần phả đình La Cả, Hà Đông, Hà Nội); Dương Viết Điển (Thần tích đình Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội)... Không chỉ xuất hiện sớm, họ Dương còn tham gia vào nhiều công việc lớn của đất nước. Đầu tiên phải kể đến cụ Dương Minh Tiết, là viên quan lớn của triều đình, giỏi giang chính sự, lấy nghề nông làm nghiệp lớn nên đã chỉ dẫn cho dân cách xuống hạ du khai phá thủy điền để an cư lạc nghiệp, mở rộng đất đai. Cụ Dương Minh Tiết còn giúp Hùng Vương thứ nhất chia nước thành 15 bộ để dễ bề cai quản, lại đặt ra luật pháp để cai trị dân chúng. Cụ Dương Minh Tiết chính là Thủy tổ của họ Dương Việt Nam, mở ra lịch sử phát triển huy hoàng của dòng họ. Kế đến đời Hùng Vương thứ sáu có cụ Dương Minh Thắng là hậu duệ của Thủy tổ Dương Minh Tiết, làm quan Lạc tướng, được Vua Hùng giao trấn giữ bộ Vũ Ninh (tương đương với các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương ngày nay). Cụ đã có công đánh đuổi giặc Ân xâm lược, sau đó định cư ở Vũ Ninh, kêu gọi nhân dân mở làng dựng ấp. Cụ Dương Minh Thắng đã lập ra ấp Long Vỹ, vùng ấy nay là Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Qua nhiều đời, con cháu họ Dương nơi đây dần đông đúc, phồn thịnh, rồi chia nhau đi các ngả khai phá, định cư thành nhiều vùng cư trú mới của người Họ Dương. Vì thế mà đất Vũ Ninh xưa được coi là đất phát tích của họ Dương.
Đến khi nước ta rơi vào ách đô hộ ngàn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc, họ Dương là một trong những dòng họ hăng hái đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong suốt hơn một thiên niên kỷ đấu tranh không biết mệt mỏi của cả dân tộc Việt, người họ Dương đã góp mặt trong rất nhiều cuộc khởi nghĩa, lập được vô số chiến công. Không những vậy, người họ Dương còn nhiều lần đứng lên nắm lấy lá cờ nhân nghĩa, hiệu triệu dân chúng, lãnh đạo, tổ chức các cuộc khởi nghĩa cứu nước.
Cuộc khởi nghĩa mở đầu trong thời kỳ Bắc thuộc là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổ ra vào năm 40. Ban đầu, cuộc khởi nghĩa này có sự liên hệ mật thiết giữa hai gia đình Lạc tướng huyện Mê Linh và Chu Diên với cuộc hôn nhân giữa Trưng Trắc và Thi Sách. Thi Sách vốn mang họ Dương, con lạc tướng huyện Chu Diên, nổi tiếng tài giỏi, nhân đức trong vùng. Ông cùng người vợ tài giỏi của mình đã tích cực chuẩn bị lực lượng, mưu sự nổi dậy chống lại ách cai trị của nhà Hán. Thế nhưng, khi kế hoạch đang diễn ra thuận lợi thì Thi Sách bị tên Thái thú Tô Định ám sát. Nợ nước cộng thêm thù nhà, Trưng Trắc cùng người em gái Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa, đòi lại giang sơn về tay người Việt và trả thù cho chồng. Ngay khi cuộc khởi nghĩa được phát động, có rất nhiều thủ lĩnh họ Dương đã theo về hưởng ứng Hai Bà Trưng như Dương Bốc (Cẩm Khê, Phong Châu), Dương Công (Thiện Tài, Vũ Ninh), Dương Giã Tiên (Yên Thế, Vũ Ninh), Dương Nước và Dương Đình (Uy Viễn, Kim Động), Dương Ngọc (Kim Thành, Dương Tuyền)… Trong số các tướng lĩnh kề vai sát cánh cùng chủ tướng có Tham quân Dương Quốc Trinh, người ở Đoài Ấp (xã Khả Phong, tổng Khả Phong, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, xứ Sơn Nam, nay thuộc huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) và Nguyên soái Dương Học, người làng Ngô Khê (sau thuộc tổng Ngô Khê, huyện Nam Xang, phủ Lỵ Nhân, xứ Sơn Nam, nay thuộc xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) đã đem quân giao chiến nhiều trận với giặc tại vùng Đọi Sơn (Hà Nam) và giành thắng lợi, góp công vào chiến thắng của nghĩa quân.
Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, hầu như thế kỷ nào nhân dân cũng nổi dậy khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Trong khí thế hào hùng của cả dân tộc không thể không nhắc đến những đóng góp của dòng họ Dương.
Năm 542, Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa chống lại nhà Lương tàn bạo. Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra có một nữ tướng kiệt xuất xin gia nhập, tên của bà là Dương Khoan Khoáng, con gái của cụ Dương Đức Minh, sinh ra tại Hồ Kỳ thuộc thôn Báo Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Tương truyền rằng, trong một đêm mưa to gió lớn, mẹ của bà đã nằm mộng thấy có một con rồng lớn phủ lên người, sau đó có thai rồi sinh ra một người con gái, trên thân có những vết như khoang rắn nên đã đặt tên con là Khoan Khoáng. Từ nhỏ, Dương Khoan Khoáng đã chuộng võ nghệ, dũng lược, mưu trí hơn người nên ai ai cũng nể phục. Bà góp công không nhỏ trong cuộc khởi nghĩa nên khi Lý Bí đánh đuổi giặc Lương, lập nước Vạn Xuân, bà được cử trấn ải vùng phía Bắc. Khi nhà Lương cử Dương Phiêu và Trần Bá Tiên mang quân xâm lấn bờ cõi, bà lui về quê, đem quân cản địch khắp mặt trận và anh dũng hy sinh trong trận đánh diễn ra vào ngày 10 tháng Chín năm Bính Dần 546.
Trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng năm 791 chống lại ách đô hộ của nhà Đường có sự xuất hiện của danh tướng Dương Vạn, vốn là một thủ lĩnh ở huyện Long Biên. Ông đã đem lực lượng của mình gia nhập lực lượng của Phùng Hưng và được cử giữ chức Tham tướng trong Bộ Chỉ huy. Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, Phùng Hưng trị nước được 11 năm thì mất, con là Phùng An nối ngôi. Đến năm 802, Phùng An đầu hàng nhà Đường, Dương Vạn phẫn uất nên tự sát, quyết không hàng giặc.
Dương Vạn có một người cháu nội tên là Dương Thanh, người đã theo gương ông của mình tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại nhà Đường và phát động một cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong thế kỷ IX. Dương Thanh vốn giữ chức Thứ sử Châu Hoan (Nghệ Tĩnh ngày nay) nhưng bất bình trước ách cai trị tàn bạo của tên quan đô hộ Độc Cô Tổn nên đã nổi dậy khởi nghĩa vào năm 819. Ông cùng con trai Dương Chí Liệt và một người thân tín là Đỗ Sĩ Giao kêu gọi nghĩa quân tập kích thành Tống Bình giành quyền tự chủ, giải thoát ách thống khổ cho nhân dân ta, mở đầu trang sử vẻ vang của Dòng tộc họ Dương từ đầu thế kỷ thứ IX.
Sang đến thế kỷ X, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ đã nổi dậy, tự xưng Tiết Độ Sứ cai quản nước ta. Khi họ Khúc bị quân Nam Hán đánh bại, một bộ tướng trung thành của họ Khúc là Dương Đình Nghệ đã không khuất phục, tập hợp hơn 3.000 tráng sĩ nhận làm con nuôi, lấy làng Giàng (Châu Ái, Thanh Hóa) làm trung tâm kháng chiến, chiêu tập anh tài cả nước, dấy binh đánh đuổi quân Nam Hán. Năm 931, Dương Đình Nghệ tiến đánh thành Tống Bình, đuổi Lý Khắc Chính, Lý Tiến, giết Trần Bảo, chiếm lại Giao Châu, khôi phục nền tự chủ nước nhà, tự xưng là Tiết Độ Sứ, cai quản đất nước sáu năm, từ 931 đến 937. Ông chính là người khởi đầu cơ nghiệp lớn của họ Dương.
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn ám sát để đoạt chức Tiết Độ Sứ, sau đó, hắn cho người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Nhân cơ hội ấy, Vua Nam Hán kéo quân sang xâm lược nước ta. Bấy giờ, người con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền hay tin đã kéo quân về Đại La, bắt giết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị nghênh địch. Trong hàng ngũ lãnh đạo quân đội của Ngô Quyền có tướng quân Dương Tam Kha, là con trai của Dương Đình Nghệ đã hiến kế đóng cọc trên sông Bạch Đằng và đích thân ông chỉ huy một đạo quân chiến đấu với quân xâm lược. Cuộc chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 kết thúc với thắng lợi của quân dân nước Việt. Từ đây, dân tộc ta đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho đất nước.
Thời kỳ phong kiến độc lập
Sau khi đất nước hoàn toàn được độc lập, nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới của chế độ phong kiến Việt Nam. Trong giai đoạn đầu của nền quân chủ, từ thế kỷ X đến XI, trải qua ba triều đại là Ngô - Đinh - Tiền Lê, người họ Dương giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước, thậm chí là có tác động to lớn đến cục diện chính trường nước Việt trong thời kỳ này.
Dưới thời Vương triều Ngô, trên cương vị là họ ngoại của Ngô Vương, những người họ Dương như Dương Thị Như Ngọc - Hoàng hậu nhà Ngô và Dương Tam Kha đã giúp cho nước Việt đi vào ổn định sau nhiều năm chiến tranh và bị lệ thuộc. Sau khi Ngô Quyền qua đời, vai trò phụ chính đè nặng lên vai Dương Tam Kha, người được Ngô Vương ủy thác trông nom những người con thơ dại. Dương Tam Kha đã tự xưng là Dương Bình Vương, trị vì đất nước trong khoảng sáu năm.
Kế đến hai triều Đinh và Tiền Lê, những người họ Dương như Dương Huy, Dương Thà, Dương Thiệp, Dương Cát Lợi, Dương Tiến Lộc… đã có những đóng góp trong việc thống nhất đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc trước cuộc xâm lăng của nhà Tống năm 981. Đặc biệt, trong giai đoạn này không thể không nhắc đến vai trò của Hoàng hậu Dương Vân Nga, vị Hoàng hậu của hai triều đại và là người có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi ngai vàng của nước Đại Cồ Việt. Khi Vua Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, người con nhỏ là Đinh Toàn lên nối nghiệp, nhà Tống liền nhân cơ hội đó cất binh xâm lược nước ta. Trong lúc vận mệnh đất nước đang ngàn cân treo sợi tóc, Hoàng hậu Dương Vân Nga nhận thấy Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là người tài đức, được người người quy phục, hô vang “Vạn tuế” nên đã lấy áo long cổn trao cho Lê Hoàn và mời ông lên ngôi Thiên tử. Đây là sự kiện đánh dấu một cuộc đổi ngôi không đổ máu và lịch sử đã chứng minh quyết định của Dương Vân Nga là hoàn toàn chính xác, bởi Lê Hoàn (tức Vua Lê Đại Hành) đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Tống thành công và đưa nước Đại Cồ Việt tiếp tục phát triển.
Đến thế kỷ XI, nhà Lý được thành lập. Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long, đến năm 1054, Vua Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt. Từ đây, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên văn minh Đại Việt phát triển rực rỡ. Trước khi bị nhà Minh xâm lược và đô hộ, Đại Việt trải qua ba triều đại Lý - Trần - Hồ với gần 400 năm độc lập. Trong quãng thời gian đó, họ Dương tiếp tục duy trì vị thế của mình trên chính trường Đại Việt với nhiều tên tuổi lẫy lừng.
Trong triều đình nhà Lý có Thừa tướng Dương Đình Tiến, danh tướng Dương Bình giúp Vua Lý Thái Tông dẹp “Loạn Tam Vương”, mở ra thời kỳ “Bách niên thịnh thế”. Bên ngoài có danh tướng Dương Tự Minh giúp Vua Lý Anh Tông bảo vệ biên cương Tổ quốc, được nhà vua gả Công chúa, chọn làm Phò mã và được nhân dân tôn vinh là “Đức Thánh Đuổm”, danh tiếng vang khắp vùng núi Phú Lương (Thái Nguyên). Đặc biệt, sự kiện Vua Lý Thần Tông lên ngôi Hoàng đế năm 1128 là một dấu ấn trọng đại của dòng họ Dương bởi rất nhiều người cho rằng nhà vua chính là dòng dõi họ Dương. Vua Lý Thần Tông tên thật là Dương Hoán, con của Sùng Hiền Hầu, được Vua Lý Nhân Tông nhận làm con nuôi và đến khi Vua Lý Nhân Tông băng hà đã để lại di chiếu nhường ngôi cho ông. Bởi vậy, trên danh nghĩa thì các vua tiếp theo vẫn mang họ Lý nhưng trên thực tế thì từ đây cho đến cuối thời nhà Lý, các vị vua đều có gốc họ Dương.
Đến thời nhà Trần, quân và dân Đại Việt đã ba lần đánh thắng giặc Mông - Nguyên xâm lược. Trong chiến tích huy hoàng đó có đóng góp không nhỏ của cộng đồng Dương tộc. Các danh thần Dương Công Đán, Dương An Dưỡng… tổ chức đội dân binh, thực hiện kế sách “vườn không nhà trống” để chiến thắng kẻ thù, làm rạng danh “hào khí đông A”, khiến giặc Nguyên Mông khiếp sợ.
Thời kỳ Lý - Trần - Hồ chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ về phía Nam của nước Đại Việt. Cuộc Nam tiến này cũng có sự đóng góp không nhỏ của những tướng lĩnh họ Dương trong triều đình Đại Việt, những người trực tiếp chinh chiến nơi sa trường, giành chiến thắng cho Đại Việt. Sau đó, theo các luồng di dân, người họ Dương dần đi về phía Nam, định cư và sinh sôi nòi giống ở đó. Vì thế mà đến thế kỷ XV, địa bàn cư trú của họ Dương được mở rộng trên một khu vực từ Bắc bộ đến Bắc Trung bộ nước ta ngày nay, điều này đã làm cho quy mô của dòng họ được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, trong những năm cuối của các triều đại Lý và Trần, những biến động chính trị trong cung đình đã tác động không nhỏ đến dân số của họ Dương. Việc thay đổi triều đại như nhà Trần thay nhà Lý hay nhà Hồ nối ngôi nhà Trần đã dẫn đến những cuộc thanh trừng đẫm máu. Con cháu dòng họ Dương vì nhiều nguyên nhân như liên quan đến hoàng tộc triều cũ hay không chịu quy thuận triều đại mới mà vướng phải cảnh bị truy lùng, nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy, để bảo vệ bản thân, gia đình, nhiều người họ Dương đã chọn cách thay tên đổi họ. Tình trạng thay tên đổi họ đã khiến cho anh em, con cháu người họ Dương ly tán nhau, lạc mất cội nguồn, khó bề nối lại vì qua nhiều đời mất liên lạc, gia phả, tộc phả không còn. Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho dân số họ Dương bị hao hụt rất nhiều.
Năm 1407, nhà Minh lợi dụng chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” đem quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến của nhà Hồ nhanh chóng thất bại, nhưng trên khắp cả nước, cuộc đấu tranh của nhân dân ta không ngừng diễn ra nhằm cản bước quân xâm lăng, trong đó có rất nhiều cuộc nổi dậy của những người họ Dương. Các thủ lĩnh như Dương Khắc Chung, Dương Thế Chân đều là những tướng lĩnh đứng trong hàng ngũ quân đội khởi nghĩa của tôn thất họ Trần; thủ lĩnh Dương Cao Thiêm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tại châu Vạn Nhai, Lạng Sơn năm 1411; thủ lĩnh Dương Tiến Giang nổi dậy ở Thái Nguyên năm 1415. Đặc biệt, gây cho kẻ thù nhiều thiệt hại nặng nề là cuộc khởi nghĩa do Dương Cung phát động vào năm 1420. Tuy nhiên, do chênh lệch về lực lượng, các cuộc khởi nghĩa nổ ra lẻ tẻ chưa có sự thống nhất nên đã bị giặc Minh đàn áp, một lần nữa, nước Đại Việt rơi vào ách đô hộ của người phương Bắc.
Dưới ách thống trị của giặc Minh, nhân dân ta phải chịu đủ mọi loại thuế khóa, lao dịch nặng nề và bị thẳng tay đàn áp. Không cam chịu kiếp nô lệ, thủ lĩnh Lam Sơn là Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa, quyết “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Ý thức được vận mệnh đất nước, hưởng ứng lời hiệu triệu của Bình Định Vương Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, rất nhiều người con họ Dương đã về Lam Sơn tụ nghĩa, một lòng chiến đấu đánh đuổi quân thù, giành lại non sông về cho dân tộc Việt. Đó là những tên tuổi đã được sử sách lưu danh như Dương Thái Nhất, Dương Công Đình, Dương Công Táo, Dương Huyền Trung…, những người đã có mặt từ rất sớm trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lập được nhiều công trạng không chỉ trên chiến trường mà còn trên nhiều phương diện khác. Chẳng hạn như Án sát Dương Thì Lợi được mời tham gia tổ chức kỳ thi Hội đầu tiên, Dương Thái Nhất được giao việc sửa chữa đền thờ Hưng Đạo vương. Sau ngày đại thắng, Dương Công Đình trở thành Nội giám, Dương Công Tảo được cấp thực ấp rộng 500 mẫu để lập làng Thụ Triền (nay thuộc xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), Dương Huyền Trung được cử làm Hộ bộ Chủ sự Linh đài lang, chuyên trông coi việc biên soạn lịch cho nhà nước.
Trong thời kỳ trị vì của nhà Hậu Lê, những người họ Dương vẫn đem tài năng và công sức phục vụ nhân dân, đất nước, đặc biệt là từ thời kỳ Vua Lê Thánh Tông. Các danh thần trong thời kỳ này có thể kể đến như Dương Đức Nhan được làm tới Hình bộ Hữu thị lang Dương Xuyên hầu; Dương Tông Hải đi sứ, khi trở về được làm Đô cấp Sự trung, Thượng bảo Tự khanh chăm lo dạy binh pháp, luyện rèn sức khỏe cho binh mã; Dương Bang Bản sau khi đi sứ được làm Đô cấp Sự trung Lại khoa rồi thăng Lễ bộ Thượng thư, Thiếu bảo Đông các Học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu, biên soạn thành công bộ Đại Việt tổng khảo luận nên được ban quốc tính là Lê Tung; Dương Trực Nguyên trở thành một vì sao trong Nhị thập bát tú của Hội Tao đàn do Vua Lê Thánh Tông đứng đầu, làm quan trải qua nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như Phủ doãn phủ Phụng Thiên, Tả thị lang Binh bộ, Tả thị lang Lễ bộ, Đô ngự sử Ngự sử đài, là người đề xuất việc đắp đê trên sông Tô Lịch đoạn từ Trát Kiều đến Cống Xuyên và Khai cừ từ An Phúc xuống Thượng Phúc; hay Tham nghị Dương Tĩnh được giao chăm lo việc nông tang… Đặc biệt là Trạng nguyên Dương Phúc Tư, thi đỗ Trạng năm 1547 đời Vua Mạc Phúc Nguyên, làm đến Bình bộ Thượng thư, Tham chính, Đông các Hiệu thư, Thiếu bảo. Ông lấy hiệu là Nốt Trai tiên sinh, sau về ông dạy học ở Cổ Sái (Cổ Liễn, Sơn Tây), đào tạo được nhiều môn sinh, con cháu đỗ đạt cao, trong đó có cả Trạng nguyên, Tiến sĩ.
Nước Đại Việt trải qua hai cuộc nội chiến nối tiếp nhau là Chiến tranh Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh, cuối cùng đã được thống nhất dưới thời Tây Sơn của vị vua anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Dưới sự chỉ huy của thiên tài quân sự Quang Trung - Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn đã lần lượt lật đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, đánh bại hai cuộc xâm lăng của ngoại bang là giặc Xiêm và giặc Thanh. Đặc biệt, trong cuộc đại phá quân Thanh ở Thăng Long vào Tết Kỷ Dậu 1789, các tướng như Dương Văn Rẽ, Dương Thất Nguyên, Dương Công Tào và Dương Hữu Vịnh có nhiều đóng góp, lập nhiều chiến công.
Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên thay. Trong khoảng thời gian 50 năm đầu tiên độc lập của nhà Nguyễn đã xuất hiện nhiều danh thần họ Dương trong triều đình Huế, góp công sức cho các đời Vua Gia Long, Vua Minh Mạng, Vua Thiệu Trị, Vua Tự Đức được ổn định, phát triển rực rỡ. Thời Vua Gia Long có ông Dương Công Tòng làm Tham biện Kinh Bắc, Dương Vịnh làm Trợ giáo Sơn Nam Thượng. Dưới thời Minh Mạng nhiều người họ Dương được bổ chức quan như Dương Đức Trung làm Đốc học Kinh Bắc, Dương Quỳnh làm Giáo thụ Bình Thuận, Dương Văn Trí làm Vệ úy, Dương Công Trang làm Tham biện Quảng Yên, Dương Phúc Vinh làm Ngự sử đạo Hải An rồi Án sát sứ Bình Định…
Thời kỳ hiện đại
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược nước ta, từ đây, lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới với các thời kỳ đấu tranh liên tục nhằm giành lại và giữ vững nền độc lập của dân tộc. Và một lần nữa, truyền thống đấu tranh bất khuất của dòng họ Dương lại trỗi dậy, hừng hực khí thế, kết hợp cùng với bách gia trăm họ của Việt Nam “tạo thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn để nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
Khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, rồi sau đó mở rộng tấn công bình định Lục tỉnh Nam Kỳ, đã xuất hiện các tấm gương dũng cảm chiến đấu chống lại quân cướp nước đến hơi thở cuối cùng như Dương Văn Khôi, Dương Văn Hạnh, Dương Văn Mưu. Đến đầu năm 1884, thực dân Pháp mở cuộc tấn công Hà Nội lần thứ hai, Tri huyện Dương Hữu Quang đã lập ra đội quân “Tín nghĩa hội” gồm các tráng sĩ yêu nước của các huyện Thọ Xương, Từ Liêm, Ứng Hòa, Thanh Oai. Đội quân đã chiến đấu anh dũng, kết hợp với quân đội triều đình và dân binh xung quanh, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đến khi phong trào Cần Vương bùng nổ, ở khắp nơi, nhân sĩ yêu nước đứng lên hưởng ứng lời hiệu triệu của Vua Hàm Nghi, khởi nghĩa cứu nước. Ở Nghệ An có Tiến sĩ Dương Thúc Hạp, Giải nguyên Dương Quế Phổ gia nhập vào cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Xuân Ôn phát động. Ở vùng Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương có đội quân “Tam tỉnh nghĩa đoàn” do Cử nhân Dương Khải cùng Nguyễn Cao, Ngô Quang Huy thành lập. Ngoài ra còn có Dương Phúc Giữa cùng các em là Dương Phúc Tân, Dương Phúc Đình, Dương Phúc Dũng phối hợp với Dương Văn Điển, Dương Văn Bính, Dương Văn Ké, Dương Văn Phô tham gia vào cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tại vùng rừng núi Yên Thế, trong hàng ngũ của nghĩa quân Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo có các thuộc tướng họ Dương như Dương Văn Thuật, Dương Văn Sử, Dương Đình Tảo, Dương Đình Bân, Dương Phùng Xuân, Dương Đình Báu, Dương Đình Hùng, Dương Đình Long, Dương Đình Hậu. Năm 1905 lại có Dương Bá Trạc lặn lội cùng Phan Chu Trinh đến Phồn Xương gặp gỡ người thủ lĩnh của phong trào Yên Thế để bàn bạc về việc phối hợp giữa các nghĩa quân miền xuôi và miền núi để đánh Pháp.
Không chỉ cầm vũ khí chống lại kẻ thù, những người họ Dương còn đấu tranh trên nhiều mặt trận khác. Khi phong trào Cần Vương thất bại, những sĩ phu yêu nước đã tìm đến con đường đấu tranh khác, đó là cải cách, canh tân đất nước nhằm xây dựng Việt Nam trở nên hùng cường, lúc đó mới có thể đương đầu với một cường quốc như Pháp. Từ đó, các phong trào như Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du bùng nổ, thu hút hàng vạn đồng bào tham gia, trong đó có những người con họ Dương yêu nước. Dòng tộc họ Dương đã có các sĩ phu yêu nước tiêu biểu Dương Trung Phổ, Dương Doãn Am, Dương Khuê, Dương Đình Cúc, Dương Duy Thành, Dương Văn Nhã, Dương Văn Hạnh và Dương Văn Điền, họ đã không ngại khó khăn gian khổ, không kinh sợ đòn roi, họng súng của kẻ thù, tích cực truyền bá những tư tưởng canh tân mới để chấn hưng đất nước. Những năm đầu thế kỷ 20, nhiều người họ Dương nhiệt tình yêu nước, hăng hái hoạt động chính trị, chống lại bọn Việt gian ở nông thôn và chống sưu cao thuế nặng như Dương Công San, Dương Công Hoan, Dương Đình Thưởng, Dương Đình Thạc rồi Dương Văn Quanh đã xuất dương sang Vân Nam (Trung Quốc) gia nhập Việt Nam Quang phục hội. Tiếp đó cha con Dương Trọng Phổ, Dương Bá Trạc hoạt động phong trào Đông kinh Nghĩa thục. Năm 1906, khởi nghĩa Thái Phiên, Trần Cao Vân nổ ra, trong cuộc khởi nghĩa có sự tham gia của Dương Đức Tuyên, Dương Đức Nhuận.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, từ đây, cách mạng Việt Nam đã đi theo con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sau sự kiện có ý nghĩa trọng đại với lịch sử Việt Nam, nhân dân ta đã lần lượt tiến hành các cuộc đấu tranh để giành lại độc lập dân tộc, từ phong trào “Xô Viết Nghệ Tĩnh” năm 1930, “Nam kỳ khởi nghĩa” năm 1941 cho đến “Cách mạng tháng Tám” năm 1945, rồi kháng chiến chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ vào năm 1954 và chống Mỹ cứu nước, kết thúc bằng đại thắng mùa xuân năm 1975. Trong thời kỳ đấu tranh đầy khói lửa và hào hùng ấy, họ Dương có các chiến sĩ tiêu biểu Dương Đình Thúy, Dương Bình, Dương Đình Liên, Dương Khuy, Dương Bạch Mai, Dương Quang Đông, Dương Quốc Chính, Dương Hữu Miên, Dương Tự Cơ, Dương Hữu Dư, Dương Đại Long và Dương Mạc Thạch… tham gia cách mạng vì mục tiêu lý tưởng “Độc lập dân tộc, tự do dân chủ và chủ nghĩa xã hội”, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh. Lại có những gia đình họ Dương tham gia cách mạng bằng cách nuôi dưỡng cán bộ cách mạng như nhà của Cử nhân Dương Tuấn Duy (Hà Lỗ, Đông Anh) là nơi đồng chí Nguyễn Văn Cừ ở trong những năm hoạt động cách mạng từ 1929-1931; gia đình ông Dương Văn Trang (Tích Sơn, Vĩnh Yên) là cơ sở của Xứ ủy Bắc Kỳ; hay gia đình ông Dương Văn Hòe (Ý Yên, Nam Định), gia đình ông Dương Hữu Chế (Đường Lâm, Sơn Tây), gia đình các ông Dương Khiếm và Dương Đình Cán (Hà Tĩnh), gia đình ông Dương Văn Vân (Bắc Sơn, Lạng Sơn)… đều trở thành nơi hội họp, hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Nhiều đảng viên họ Dương đã trở thành cán bộ lãnh đạo phong trào địa phương như Dương Nhật Đại, Dương Xuân Thiếp, Dương Mạc Thạch.
Ngày nay, khi đất nước đã được hòa bình và bước vào thời kỳ phát triển, những con cháu của Dương tộc Việt Nam tiếp tục chiến đấu trên một mặt trận mới cũng đầy cam go, thách thức, đó là mặt trận kinh tế. Dù vậy, trên bất kỳ hoàn cảnh nào, những người họ Dương vẫn phát huy hết nội lực, truyền thống, bản sắc của dòng họ và đạt được nhiều thành tựu vẻ vang, đóng góp rất lớn vào sự phát triển chung của đất nước. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, họ Dương vẫn giữ vững được vị thế của một dòng họ hàng đầu, Hội đồng họ Dương Việt Nam là một trong những hội đồng dòng họ có nhiều hoạt động sôi nổi, ý nghĩa nhất. Những đóng góp của dòng họ Dương trong quá khứ, ở hiện tại và cả tương lai là vô cùng có ý nghĩa với đất nước. Dòng họ đã và đang tích cực giáo dục, cổ vũ các thế hệ con cháu tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ, luôn nỗ lực, phấn đấu để xứng đáng với lớp lớp các thế hệ đi trước, làm rạng danh tổ tiên, dòng tộc và xây dựng đất nước Việt Nam ngày một phồn vinh, giàu đẹp
Ý kiến (0)