DJC

Đã đánh giá tài liệu

Cảm ơn bạn đã phản hồi

Giới thiệu Đinh Tộc Việt Nam

Tài liệu miễn phí

GIỚI THIỆU ĐINH TỘC VIỆT NAM

Họ Đinh là một họ của người Châu Á, sống chủ yếu ở các quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên. Ở Việt Nam, dòng họ Đinh đã hiện diện từ sớm và có danh tiếng lẫy lừng. Đây chính là dòng họ đã sáng lập nên Vương triều Đinh - triều đại quân chủ tập quyền đầu tiên trong lịch sử nước ta. Triều đại này gắn liền với vị vua sáng lập là Vua Đinh Tiên Hoàng và tên nước Đại Cồ Việt, nghĩa là “Nước Việt to lớn”.

Theo các số liệu điều tra dân số, họ Đinh đang là dòng họ phổ biến thứ 17 ở nước ta với khoảng hơn một triệu đồng bào. Người mang họ Đinh sống rải rác trên khắp cả nước nhưng tập trung khá nhiều ở Ninh Bình - địa phương được xem là nơi khởi phát của Vương triều Đinh, đồng thời cũng là mảnh đất cố đô của Việt Nam - kinh đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt. Họ Đinh không chỉ có ở dân tộc Kinh mà có ở cả các dân tộc thiểu số khác như người Lái, người Mường, người Thái, người Ê đê, người Gia Lai…

Dòng họ Đinh không chỉ nổi danh với lịch sử lâu đời và những giá trị truyền thống tốt đẹp, mà còn với những nhân vật lịch sử kiệt xuất, đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong những trang sử vàng của dân tộc. Lịch sử đã ghi danh rất nhiều danh nhân họ Đinh nổi tiếng. Đó là những danh thần, mưu sĩ, các nhà khoa bảng đại tài đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển, thịnh vượng của các vương triều phong kiến. Nhiều người trong số họ được hậu thế vinh danh, tên tuổi được đặt cho những con đường, tuyến phố như Đinh Củng Viên - danh thần thời Vua Trần Nhân Tông, rất giỏi biện thuyết; Đinh Bạt Tụy - khai quốc công thần nhà Lê trung hưng… Và trong hơn 800 năm lịch sử khoa cử nước nhà đã ghi nhận 25 Tiến sĩ người họ Đinh đỗ đạt, làm quan to trong triều.

Đặc biệt, họ Đinh còn có rất nhiều võ tướng tài ba, có tinh thần yêu nước bất khuất và góp công trong các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm. Bởi thế mà trong dân gian có câu “Đánh giặc họ Đinh” để ca tụng truyền thống anh hùng của dòng họ này. Người họ Đinh đã có mặt trong hầu hết các cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập của dân tộc ta, từ thời Bắc thuộc đã xuất hiện hai nữ tướng Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương, theo Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, được thờ ở đình Đông Ba thuộc thôn Đông Ba, xã Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ở thế kỷ VII có ông Đinh Kiến đã lãnh đạo nhân dân ta khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo của nhà Đường. Cha của Vua Đinh Tiên Hoàng là Đinh Công Trứ, một tướng quân có công giúp Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đánh bại cuộc xâm lăng của quân Nam Hán, giành lại độc lập cho Việt Nam từ tay Trung Quốc trong thế kỷ X. Trong hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn có hai anh em Đinh Lễ, Đinh Liệt là những vị anh hùng dân tộc chống quân Minh, khai quốc công thần của nhà Hậu Lê. Thời cận đại có anh hùng Đinh Công Tráng - vị chỉ huy tối cao của cuộc khởi nghĩa Ba Đình trong phong trào Cần Vương chống Pháp thế kỷ XIX. Hay người anh hùng, chiến sĩ cách mạng người dân tộc Ba Na - Đinh Núp, danh tiếng lan sang tận nước bạn Cuba xa xôi…

Bước sang thời kỳ hiện đại, người họ Đinh vẫn tiếp tục đồng hành cùng với người dân trăm họ Việt Nam để đưa đất nước phát triển và hội nhập, tạo nên những thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục của nước nhà. Điển hình là tấm gương của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Đinh Xuân Lâm - một trong “Tứ trụ” huyền thoại của nền sử học Việt Nam hiện đại; hay nhà văn Ma Văn Kháng, tên thật là Đinh Trọng Đoàn - một cái tên nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới. Các tác phẩm của Ma Văn Kháng đã đạt được nhiều giải thưởng văn học, được đông đảo công chúng biết đến và được trích dẫn trong chương trình giảng dạy phổ thông môn Ngữ Văn.

Những nhân vật lịch sử của dòng họ Đinh không chỉ là niềm tự hào của riêng dòng họ mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và trí tuệ uyên bác của dân tộc Việt Nam. Những đóng góp của dòng họ Đinh đối với đất nước sẽ luôn được nhân dân Việt Nam trân trọng, tôn vinh và trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau. Dòng họ Đinh với bề dày lịch sử và những giá trị truyền thống tốt đẹp sẽ tiếp tục là một trong những dòng họ có ảnh hưởng và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

HỌ ĐINH TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Nguồn gốc họ Đinh

Họ Đinh có mặt từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm phát triển, dòng họ Đinh đã xây dựng được một chỗ đứng vững chắc trong cộng đồng các tộc họ của người Việt. Mặc dù vậy, do chiến tranh loạn lạc, tài liệu, thư tịch bị thất lạc nên đến nay họ Đinh vẫn chưa xác định được nơi phát tích của dòng họ và cụ Thủy tổ là ai. Theo các văn bia, thần tích thần phả còn sót lại thì người họ Đinh xa xưa nhất trong lịch sử Việt Nam được biết đến là cụ Đinh Công Bách, vị thần được thờ trong đình cổ làng Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đình này là nơi thờ tự ba cha con vị tướng họ Đinh, ngoài Tướng quân Đinh Công Bách còn có hai người con của ông là Tướng quân Đinh Linh Quang và Nữ tướng Đinh Bảo Ngọc.

Theo các văn tự trên tấm bia đá cổ ở ngôi đình ghi lại, cụ Đinh Công Bách quê ở trang Ngô Đồng, huyện Bất Bạt, lấy vợ là cụ bà Trương Thị Nhật, người làng Doãn Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc, nay là làng Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cụ Đinh Công Bách là một Lạc tướng kiệt xuất của Hùng Vương thứ 18 đã chiến đấu ngoan cường nhằm giữ yên bờ cõi của nước Văn Lang trước các cuộc xâm lăng của giặc ngoại xâm. Đến những năm cuối đời Hùng Vương thứ 18, thủ lĩnh người Âu Lạc là Thục Phán đưa quân sang tấn công Văn Lang. Lúc này, cụ Đinh Công Bách đã hơn 80 tuổi nhưng vẫn dẫn đầu các Lạc hầu, Lạc tướng cầm quân ra trận. Trải qua sáu năm chiến đấu, lực lượng quân đội Văn Lang dần suy giảm và vận khí của Vua Hùng cũng đã xuống, cụ vẫn hết mình xả thân vì nước trong những trận đánh không cân sức với Thục Phán. Cuối cùng, cụ cùng hai người con Đinh Linh Quang và Đinh Ngọc Bảo đều hy sinh anh dũng. Nhân dân làng Doãn Thượng tưởng nhớ đến ba cha con cụ Đinh Công Bách nên đã lập đền thờ, hằng năm lấy ngày 12 tháng 03 Âm lịch là ngày sinh của Tướng quân Đinh Linh Quang làm ngày mở hội và lễ hội đó đã được duy trì hàng trăm năm nay. Đó là thần tích về những nhân vật đầu tiên của họ Đinh trong thời kỳ đầu của lịch sử dân tộc. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, người họ Đinh đã phân tán thành nhiều chi họ, sống rải rác khắp mọi miền Tổ quốc, trong đó có bốn chi họ chính, lớn mạnh và đã xác định được nguồn gốc rõ ràng.

Đầu tiên là họ Đinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Vào những năm đầu Công nguyên, ở bên cạnh dòng sông Thao có làng Vũ Ẻn, đây là nơi cư ngụ của ông Đinh Văn Bôn và bà Phí Thị Vang. Hai ông bà làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh cứu người. Giai thoại kể rằng, sau nhiều năm lấy nhau, tu nhân tích đức, ông bà đã được trời ban cho một mụn con. Vào ngày 03 tháng Giêng năm Quý Mùi 23, bà Phí Thị Vang hạ sinh một người con gái, đặt tên là Đinh Thị Nguyệt. Một hôm, có một thầy tướng số đi qua và bảo hai ông bà nên đổi tên con gái thành Đinh Phật Nguyệt sau này sẽ lập nên công danh. Quả nhiên, lớn lên, Đinh Phật Nguyệt rất tinh thông võ nghệ, thấy giặc Nam Hán áp bức nhân dân, bà tập hợp trai tráng trong vùng, dựng cờ khởi nghĩa. Nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh,  Phật Nguyệt liền dẫn quân về Mê Linh phò tá Hai Bà. Nàng được Trưng Trắc phong làm Tả tướng Thủy quân, trấn giữ vùng sông Thao. Trong cuộc khởi nghĩa, nàng đã có công thu phục các thành trì của giặc ở vùng Kinh Bắc. Đến khi Mã Viện mang quân sang cướp nước, nàng đã gây kinh hoàng cho quân đội nhà Hán khi có trận chiến thắng Mã Viện, Lưu Long và Đoàn Chí ở hồ Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc). Sau khi hy sinh, Đinh Phật Nguyệt được lập đền thờ tại quê nhà Thanh Ba. Hiện nay ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ có ba ngôi làng cổ, toàn người họ Đinh, đều có đền thờ Nữ tướng Đinh Phật Nguyệt là Vũ Ẻn, Thanh Vân và Phương Lĩnh. Hai trong ba ngôi đền thờ ấy vẫn còn đầy đủ bài vị của Đinh Phật Nguyệt. Như vậy, Nữ tướng Đinh Phật Nguyệt là một minh chứng về sự xuất hiện của họ Đinh từ thời Hai Bà Trưng, và hậu duệ của bà chính là những người họ Đinh ở ba ngôi làng cổ ngày nay.

Dòng họ Đinh thứ hai là ở Tây Nguyên, có nguồn gốc từ khoảng thế kỷ thứ IX. Vào thời đó, nhà Đường đang đô hộ nước ta, ở phía Bắc Giao Chỉ (tên một quận ở nước ta do nhà Đường đặt) có ông Đinh Kiến là một người dân tộc thiểu số. Không cam chịu ách áp bức bóc lột, Đinh Kiến đã cùng Lý Tự Tiên dựng cờ khởi nghĩa vào năm 687. Nghĩa quân của Đinh Kiến đã phá thành và giết chết được tên quan đô hộ nhà Đường là Lưu Diên Hựu, làm chủ chính quyền trong một thời gian ngắn. Sau đó, Vua Đường đã phái quan Tư mã Quế Châu đem quân sang đàn áp. Đinh Kiến cùng nghĩa quân chiến đấu anh dũng nhưng cuối cùng đã đuối sức và thất bại. Đinh Kiến hy sinh và nghĩa quân cũng dần tan rã. Hậu duệ của ông Đinh Kiến đã di cư xuống phía Nam, vào thượng du trung bộ rồi cuối cùng là Tây Nguyên. Trải qua hàng ngàn năm, hậu duệ của Đinh Kiến đã dần trở thành một bộ phận dân tộc thiểu số và ngày nay, tại nơi đại ngàn Tây Nguyên, có rất nhiều người mang họ Đinh thuộc các dân tộc thiểu số như Gia Rai, Ê Đê…

Dòng họ Đinh thứ ba, cũng là dòng họ nổi tiếng nhất, là dòng dõi của Vua Đinh Tiên Hoàng. Vào thế kỷ thứ X, Dương Đình Nghệ tiếp nối cơ nghiệp của họ Khúc thống lĩnh nước Việt. Trong bộ tướng của Dương Đình Nghệ có Tướng quân Đinh Công Trứ, được phong là Thứ sử Hoan Châu. Về già, ông về quê ở châu Đại Hoàng (nay thuộc Ninh Bình) và sinh được người con trai là Đinh Bộ Lĩnh. Sau khi nhà Ngô mất, đất nước bị chia cắt bởi các sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp được “Loạn 12 sứ quân”, thống nhất sơn hà và lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Vua Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.

Theo Đinh tộc thế phả và Ngọc phả họ Đinh cùng nhiều sách sử ghi chép lại thì Vua Đinh Tiên Hoàng có năm vị Hoàng hậu, sinh được bốn người con trai là Nam Việt Vương Đinh Liễn, Thái tử Đinh Hạng Lang, Đinh Tuệ, Vệ Vương Đinh Toàn. Thái tử Đinh Hạng Lang đã mất khi còn nhỏ, còn Vệ Vương Đinh Toàn hy sinh trên chiến trường, không có tài liệu nào nói về người nối dõi ông cả nhưng có lẽ vẫn sẽ có hậu duệ bởi lúc ông mất là 27 tuổi.

Khi Vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, Lê Hoàn lên làm vua Đại Cồ Việt, Hoàng tử Đinh Tuệ đã dẫn theo gia quyến di cư đến vùng Hòa Bình. Về sau lập thành nhánh Đinh Công, một dòng họ quý tộc của người Mường ở Hòa Bình. Bởi thế ngày nay dân tộc Mường có hai họ chính là họ Hà và họ Đinh.

Người con trai cả Đinh Liễn sinh được năm người con trai, đều được tôn làm Đại lang, đó là: Đại lang Đinh Phúc Trí, Đại lang Đinh Quá Phúc, Đại lang Đinh Trực Thuận, Đại lang Đinh Phúc Lương, Đại lang Đinh Chính Tâm. Năm người con này sau đó tỏa đi và trở thành Thủy tổ của nhiều dòng họ Đinh trên toàn cõi đất Việt. Trong đó, nhánh của người con út Đinh Chính Tâm là phát triển mạnh mẽ nhất, duy trì đến tận ngày nay được hơn 20 đời và tỏa đi rất nhiều nơi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ như các huyện Ngọc Lặc, Thọ Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hậu Lộc, Thiệu Hóa, Triệu Sơn ở tỉnh Thanh Hoá; các huyện Vũ Thư, Hưng Hà, An Lão, Thái Thuỵ, Kiến Xương, Đông Hưng ở Thái Bình; Lưu Kỳ, Lưu Kiếm, Kiến An ở Hải Phòng; huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương; các huyện Xuân Trường, Vụ Bản, Trực Ninh tỉnh Nam Định; các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn ở Nghệ An; Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình; Cẩm Xuyên, Hương Khê ở Hà Tĩnh; Đồng Thếch, Kim Bôi tỉnh Hòa Bình; Thanh Liêm, Lý Nhân tỉnh Hà Nam; Thanh Đàm (tức Thanh Trì ngày nay), Thường Tín, Từ Liêm ở Hà Nội… Một hậu duệ của Đinh Chính Tâm là Đinh Thập Lý ở sách Thùy Cối, huyện Thuỵ Nguyên, thuộc địa hạt Hoan Châu (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) được phong đến tước Hầu vào thời nhà Lý. Đinh Thập Lý sinh ra Đinh Thủy, Đinh Thuỷ sinh Đinh Thuý, Đinh Thuý sinh Đinh Thỉnh, Đinh Thỉnh sinh Đinh Tôn Nhân, Đinh Tôn Nhân sinh ra ba kiệt tướng là Đinh Lễ, Đinh Bồ và Đinh Liệt, là những công thần khai quốc của triều Lê sơ.

Cùng thời với Vua Đinh Tiên Hoàng còn có ngài Ngoại giáp Đinh Điền, bạn của Vua Đinh, mà hậu duệ của ông là dòng thứ tư của họ Đinh ngày nay. Theo gia phả dòng họ ghi chép lại, khi nhà Đinh mất, Tướng công Đinh Điền và những người họ Đinh gốc ở huyện Gia Viễn (Ninh Bình) đã đi khắp nơi lập ấp, xây nhà. Trong đó có người về đất Hàn Giang, Hải Dương sinh sống, lập nghiệp. Về lập nghiệp ở đây, những người họ Đinh có nhiều công trạng với vùng đất này nên được các đời vua và dân chúng suy tôn là Thành hoàng làng Hàn Giang. Từ Đinh Đàm - công thần thời Lê sơ đến Tướng công Đinh Văn Tả - đại thần nhà Lê trung hưng, rồi ba người con trai của Đinh Văn Tả cũng lần lượt được phong là Thành hoàng làng hiện được thờ cúng tại đình Hàn Giang. Theo các tài liệu nghiên cứu, dòng họ Đinh tại Hải Dương có 09 người được phong Đại vương, 18 người được phong Quân công… Từ những con số này có thể thấy sự đóng góp rất lớn của dòng họ Đinh với mảnh đất này.

Trải qua 16 đời sinh sống trên mảnh đất được vua ban tại làng Hàn Giang, con cháu dòng họ Đinh vẫn tiếp tục phát huy truyền thống, góp phần xây dựng quê hương. Theo thống kê của dòng họ, đến nay dòng họ Đinh ở Hải Dương có khoảng 4.000 người, đông nhất ở phường Cẩm Thượng với 13 chi, ngành trực thuộc. Các xã, phường Bình Hàn, Thanh Bình, Việt Hòa, An Thượng, Quang Trung, Nam Đồng, Tân Hưng mỗi nơi có một chi.

Bốn dòng họ đó là bốn dòng chính của họ Đinh đã phân tán đi mọi miền của Tổ quốc. Lịch sử về bốn dòng họ lớn đó cũng có thể khái quát nên được toàn cảnh sự phát triển của họ Đinh Việt Nam và công việc tìm lại tiên tổ đang được con cháu họ Đinh tích cực triển khai.

Vương triều Đinh - Triều đại quân chủ tập quyền đầu tiên của Việt Nam

Năm 939, sau khi đánh bại quân Nam Hán, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, bắt đầu xây dựng nước Việt. Thế nhưng, tình hình chính trị của nước ta chỉ ổn định được vài năm rồi rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sự hỗn loạn đó bắt đầu từ khi Ngô Vương băng hà, trước đó, nhà vua ủy thác con thơ cho Dương Tam Kha, vị tướng họ Dương đã tự xưng là Dương Bình Vương, cai quản đất nước. Điều này đã khiến cho các tướng lĩnh quân sự ở các địa phương bất bình, dấy binh phản đối. Mặc dù sau đó, Dương Bình Vương đã trả lại ngai vàng cho họ Ngô nhưng tình hình vẫn không lắng xuống mà còn bùng phát mạnh mẽ hơn. Bấy giờ, trên lãnh thổ nước Việt xuất hiện thế lực của 12 vị tướng quân, mỗi người hùng cứ một phương rồi đem quân đánh lẫn nhau, sử sách gọi đó là thời kỳ “Loạn 12 sứ quân”. Sự loạn lạc này đã khiến nước ta rơi vào tình trạng chia cắt, phân liệt, mất đi sự đoàn kết và nếu không sớm chấm dứt thì sẽ trở thành miếng mồi ngon cho các thế lực ngoại bang nhòm ngó. Việc chấm dứt cát cứ, thống nhất đất nước đã trở thành một nhiệm vụ lịch sử cấp thiết.

Bấy giờ, ở đất Hoa Lư, Ninh Bình xuất hiện một vị tráng sĩ là Đinh Bộ Lĩnh. Ông vốn là con trai của danh tướng Đinh Công Trứ, người năm xưa có công giúp Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền chống giặc Nam Hán. Nhận thấy “Loạn 12 sứ quân” là sự ngăn trở đối với sự phát triển của dân tộc, ông đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, nêu cao đại nghĩa đánh bại các sứ quân, thống nhất giang sơn. Sau nhiều năm “Đông chinh Bắc tiến”, đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại được sứ quân cuối cùng là Lã Đường, thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu là Vua Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt tức “Nước Việt to lớn”, định đô ở Hoa Lư, xây dựng triều chính và quản lý đất nước. Đến năm 970, nhà vua đã bỏ việc dùng niên hiệu của các Hoàng đế Trung Hoa đặt cho và tự đặt niên hiệu mới là Thái Bình. Nhà Đinh chính là triều đại quân chủ tập quyền đầu tiên trong lịch sử nước nhà, và Vua Đinh Tiên Hoàng chính là vị Hoàng đế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, bởi trước đó Ngô Quyền chỉ xưng vương chứ chưa đặt tên nước. Cùng với việc xưng đế, đặt quốc hiệu, dựng kinh đô, định niên hiệu, Vua Đinh Tiên Hoàng đã khẳng định nền độc lập, tự chủ của quốc gia. Về tổ chức, bộ máy nhà nước dưới thời Vua Đinh Tiên Hoàng được chia làm ba cấp quản lý: Triều đình (cấp Trung ương) - Đạo (cấp trung gian) - Giáp, Xã (cấp cơ sở).  Triều đình Trung ương đặt tại Kinh đô Hoa Lư do Vua Đinh Tiên Hoàng đứng đầu, con trai cả là Đinh Liễn được phong làm Nam Việt Vương, có quyền hành lớn chỉ sau Hoàng đế và được giao đặc trách công việc bang giao. Vua Đinh chia đất nước thành nhiều đạo, dưới đạo là giáp và xã. Tuy nhiên, các sử liệu về nhà Đinh đã bị thất lạc nên đến nay, địa bàn của từng đạo và hệ thống quan chức các cấp chính quyền chưa được xác định được rõ ràng.

Vua Đinh Tiên Hoàng bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng bộ máy quan lại để giúp vua trị nước. Sử sách chép rằng, năm Thái Bình thứ 2 (971), nhà vua bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo. Đến năm 975, quy định áo mũ của các quan văn, võ.

Nhìn chung, về tổ chức chính quyền Trung ương thời Đinh là bộ máy chính quyền quân chủ thời kỳ mới độc lập, tự chủ nên còn khá sơ sài, đơn giản, chưa thật hoàn chỉnh, nhưng việc củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước quân chủ của Đinh Tiên Hoàng đã được các sử gia đánh giá rất cao và là tiền đề để các triều đại kế tục tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh.

Về quân sự, Nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh về cơ bản là một nhà nước võ trị. Quân đội thời Đinh đông và mạnh. Điểm nổi bật nhất trong tổ chức quân sự phòng giữ đất nước thời nhà Đinh là tổ chức “Thập đạo quân”. Vua Đinh Tiên Hoàng chia quân làm mười Đạo, dưới đạo có các đơn vị như Quân, Lữ, Tốt, Ngũ. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Đinh Tiên Hoàng, năm Thái Bình thứ 5 (974), định ngạch quân 10 đạo, một đạo 10 quân, một quân 10 lữ, một lữ 10 tốt, một tốt 10 ngũ, một ngũ 10 người”. Nếu tính theo con số trên thì quân đội nhà Đinh có đến một triệu người. Quân phục của binh lính nhà Đinh là áo giáp, mũ “Tứ phương bình đinh” (bốn góc vuông, phía trên phẳng) bằng da và riêng quân Túc vệ đều thích trên trán ba chữ “Thiên tử quân” để phân biệt với các loại quân khác. Quân đội được trang bị các loại bạch khí, kết hợp giữa giáo, kiếm, côn với cung, nỏ…

Thời nhà Đinh, luật pháp bắt đầu được chú trọng và bước đầu xây dựng bài bản. Vua Đinh Tiên Hoàng đã đặt chức Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án - một chức quan tư pháp và giao cho Lưu Cơ giữ chức này. Luật pháp thời Đinh khá nghiêm khắc, theo nhiều sử liệu, triều đình cho đặt vạc dầu hoặc nuôi hổ trong cũi ở sân triều để trừng phạt phạm nhân.

Về kinh tế, nông nghiệp là lĩnh vực được quan tâm, với việc tập trung khai hoang, lập làng, mở rộng diện tích canh tác xuống vùng đồng bằng và ven biển. Ngoài nông nghiệp, một số ngành nghề thủ công nghiệp cũng được chú ý phát triển như nghề thợ nề, thợ đá, mộc, chạm khắc, dát vàng bạc…, chủ yếu để phục vụ vua quan và quân đội. Trong dân gian, các nghề truyền thống như trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải lụa, làm giấy tiếp tục phát triển. Khoảng năm 970, Vua Đinh Tiên Hoàng cho phát hành đồng tiền đầu tiên của đất nước, đặt tên là “Đồng Thái Bình Hưng Bảo”. Sự ra đời của đồng tiền này đã thúc đẩy việc trao đổi buôn bán hàng hóa trong nhân dân. Không chỉ có buôn bán trong nước, việc trao đổi, giao thương vật phẩm cũng được thực hiện với Trung Quốc và với các thuyền buôn nước ngoài.

Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, Vua Đinh Tiên Hoàng cũng chú ý đến phát triển văn hóa. Dưới thời Đinh, một nền văn hóa mang tính dân tộc đã manh nha hình thành. Trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng dân gian hòa trộn với các tôn giáo như Phật giáo, Đạo giáo. Trong đó, Đạo Phật là chỗ dựa tinh thần và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Đại Cồ Việt cũng như trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Ở Kinh đô Hoa Lư, triều đình đã xây dựng nhiều chùa chiền như chùa Tháp, chùa Bà Ngô… và các cột kinh Phật. Nhiều nhà sư đã trở thành cố vấn cho vua Đinh về đường lối đối nội và đối ngoại. Năm 971, Vua phong cho Tăng thống Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Đại sư (Khuông Việt nghĩa là phò giúp nước Việt), chứng tỏ các tăng sĩ đã có vai trò rất lớn trong việc phò giúp Đinh Bộ Lĩnh. Thời kỳ này, nhiều loại hình văn hóa dân gian đã hình thành, như ca múa nhạc (thể hiện qua truyền thuyết bà Phạm Thị Trân ở Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên dạy quân sĩ hát, đánh trống, được phong chức và được suy tôn là Huyền Nữ, Ưu Bà), một số môn xiếc đã điêu luyện được biểu diễn trên lầu Đại Văn…

Về đối ngoại, ngay sau khi lên ngôi, Vua Đinh Tiên Hoàng đã quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệ bang giao với nhà Tống. Vua Đinh chính là người đầu tiên khởi xướng nghệ thuật ngoại giao “Thần phục trên danh nghĩa, độc lập thực sự” và trở thành kim chỉ nam cho các triều đại kế tiếp trong quan hệ với các triều đại phong kiến Trung Hoa. Trong thời nhà Đinh trị vì đất nước, quan hệ bang giao giữa Đại Cồ Việt và Trung Quốc không xảy ra xung đột. Nhà Tống đối với triều Đinh nói chung và Vua Đinh Tiên Hoàng nói riêng, đều tỏ ra hữu hảo. Điều này cho thấy, Vua Đinh Tiên Hoàng đã có một chính sách đối ngoại khéo léo, mềm dẻo để giữ gìn hòa bình cho dân tộc.

Sự ra đời của Vương triều Đinh có ý nghĩa thực sự lớn lao đối với lịch sử dân tộc. Thứ nhất, nhà nước Đại Cồ Việt ra đời vào năm 968 đã chấm dứt tình trạng phân tán, cát cứ kéo dài do “Loạn 12 sứ quân” gây ra, cùng với đó, quốc gia dân tộc được thống nhất với cương vực lãnh thổ riêng. Thứ hai, với việc thiết lập triều đình riêng do một Hoàng đế đứng đầu, có niên hiệu riêng, quản lý một lãnh thổ riêng biệt chính là sự khẳng định mạnh mẽ nền độc lập, tự chủ của đất nước vừa mới được khôi phục sau một thiên niên kỷ lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc. Thứ ba, nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh với tổ chức bộ máy, chính sách đối nội, đối ngoại tuy sơ khai nhưng đã mở ra một thời kỳ mới về tổ chức quản lý đất nước trong lịch sử dân tộc - thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ lâu dài với sự nối tiếp nhau của các nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Vua Đinh Tiên Hoàng và Vương triều Đinh đã mở đầu cho thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc Việt Nam.

“Đánh giặc họ Đinh”

Họ Đinh có truyền thống và nổi tiếng giỏi việc đánh giặc, chinh chiến. “Đánh giặc họ Đinh” là câu nói được truyền tụng trong dân gian từ thời Lê trung hưng, không chỉ tôn vinh những vị tướng tài họ Đinh trong thời kỳ đó mà còn ca ngợi những người họ Đinh có công bảo vệ đất nước trong lịch sử.

Trong thời kỳ Bắc thuộc 1.000 năm, dân ta phải sống dưới ách đô hộ của giặc phương Bắc nhưng người Việt không cam chịu mất nước mà liên tục đứng lên đấu tranh giành lại nền độc lập, tự chủ. Trong hơn 10 thế kỷ, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, người họ Đinh đã tham gia vào nhiều cuộc khởi nghĩa lớn với những chiến thắng vang dội. Từ cuộc khởi nghĩa mở đầu của Hai Bà Trưng đã xuất hiện nữ tướng Đinh Phật Nguyệt, đến thế kỷ VII có cuộc khởi nghĩa do thủ lĩnh Đinh Kiến lãnh đạo chống lại nhà Đường. Cuối cùng, chế độ Bắc thuộc đã kết thúc bằng hai lần chiến thắng quân Nam Hán của Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền, trong hai chiến thắng đó đều có sự góp mặt của Tướng công Đinh Công Trứ.

Bước sang thế kỷ thứ X, ở nước ta xuất hiện “Giao Châu thất hùng”, đây là danh xưng mà người đời chỉ bảy anh hùng kiệt xuất ở đất Giao Châu khi đó là Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng. Bảy người anh hùng này dưới sự lãnh đạo của Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt đánh bại 12 sứ quân đều là những thủ lĩnh quân sự rất mạnh thời điểm đó để chấm dứt loạn lạc, thống nhất đất nước.

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) có công sức của ba anh em họ Đinh giúp Lê Lợi chống giặc Minh cho đến ngày toàn thắng. Đó là Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt. Theo chính sử, ba anh em quê ở miền Tây Thanh Hóa, sinh ra vào cuối thời Trần và lớn lên trong giai đoạn đất nước bị nhà Minh ở phương Bắc đô hộ. Cha của các ông là Đinh Tôn Nhân, một hào kiệt yêu nước trong vùng, người đã mang hết gia sản chiêu mộ anh hùng mưu sự khởi nghĩa. Tuy nhiên, hoài bão lớn vừa mới nhen nhóm thì ông đột ngột qua đời. Tiếp tục sự nghiệp của cha, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt chiêu binh mãi mã chờ ngày khởi sự. Được tin Lê Lợi khởi nghĩa nơi núi rừng miền Tây Thanh Hóa, Đinh Lễ, Đinh Bồ và Đinh Liệt đem toàn bộ gia sản, vũ khí và lực lượng hội quân cùng Lê Lợi mưu nghiệp lớn. Đinh Liệt là một trong 18 vị anh hùng tham gia Hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi.

Cả ba anh em sau đó đều được cất nhắc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong quân đội, cùng nghĩa quân làm nên những chiến thắng vang dội trên mọi mặt trận. Trong chiến trận, cả ba người đều bộc lộ rõ bản lĩnh kiên cường, dũng cảm, mưu trí góp phần cùng chủ tướng và toàn nghĩa quân vượt qua nhiều thử thách, thiếu thốn về lương thực, vũ khí để từ đó mở rộng chiến trường, tạo bước đột phá trong chiến tranh.

Khi sự nghiệp chống Minh toàn thắng, tưởng nhớ và đền đáp những đóng góp và hy sinh của ba anh em họ Đinh, Vua Lê đã luận công ban chức: Đinh Lễ được truy phong chức Thái úy, Nhập nội Tư không, Nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái úy Quốc thượng Hầu; Đinh Bồ được truy phong Bình Ngô Khai Quốc công thần, Thái Phó Định Quốc công, Uy Dũng Đại vương, gia phong Trác Vĩ Thượng đẳng Phúc thần. Bài vị của Đinh Lễ và Đinh Bồ được đặt trong Thái miếu nhà Lê. Còn Đinh Liệt được phong Lũng Nhai Khai quốc Bảo Kiếm công thần, Thượng Trụ Quốc Thái sư kiêm Thái tử Thái sư Lân Quốc công.

Đến thế kỷ XVII, thời Lê trung hưng, làng Hàm Giang (huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là nơi phát tích một dòng họ võ tướng nổi tiếng, khởi đầu là mãnh tướng Đinh Văn Tả (? - 1686). Năm Quý Tỵ 1655, Chúa Trịnh cất quân chinh phạt Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Đinh Văn Tả là một trong số các tân binh, nổi tiếng là giỏi bắn cung và sức khỏe hơn người. Trong trận đánh này, Đinh Văn Tả được sung vào quân tiên phong, ông xung trận dũng mãnh, tung hoành giữa trận tiền, đánh bại liên tiếp quân Nguyễn. Kết thúc chiến dịch, ông được thăng ngay chức Quản binh. Từ đấy về sau, mỗi khi có chiến dịch quân sự nào, Đinh Văn Tả đều tham gia xung trận hãm thành, lập nhiều chiến công, khét tiếng là viên mãnh tướng nhà Lê - Trịnh. Đinh Văn Tả là viên tướng chỉ huy quân tiên phong trong quân đội của Chúa Trịnh, phía Nam đánh quân Nguyễn, phía Bắc đánh nhà Mạc, thắng giặc ở nhiều nơi. Ông lập được chiến công bắt sống Mạc Kính Viễn, đuổi Mạc Kính Vũ phải chạy đến đất Cao Bằng. Sau, ông lại vâng lệnh Chúa Trịnh đánh chiếm lại Cao Bằng về cho triều đình. Tiếng tăm ông lừng lẫy một thời, Vua Lê - Chúa Trịnh phong chức cho ông tới hàm Thái tử Thiếu bảo, Đông quần phủ, tước Quận công. Cách đây mấy chục năm, ở làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, người ta đã phát hiện được ngôi mộ xây rất công phu của Đinh Văn Tả và hai vị phu nhân ở gò Vẩy Rồng. Dân quê ông gọi ông là Lộc quận công.

Hổ phụ sinh hổ tử, con trai Đinh Văn Tả là Đinh Văn Sĩ cũng là một dũng tướng, phò chúa lập nhiều công lớn, được phong đến Thái tử Thiếu bảo, tước Hiển quận công. Đinh Văn Sĩ có ba con trai là Đinh Văn Công làm đến Tổng binh đồng tri, tước Quận công; Đinh Văn Thuần làm đến Tổng binh sứ, tước Hầu; đặc biệt là Đinh Thế Giai, một hổ tướng thời ấy, sau được phong tới Thiếu phó, tước Quận công.

Vào cuối thời Lê mạt, họ Đinh ở Hàm Giang cũng xuất hiện một võ tướng tên tuổi nữa là Đinh Tích Nhưỡng. Thời bấy giờ dân gian có câu “Hàm Giang thảo tặc” hàm ý xưng trọng họ Đinh ở Hàm Giang đánh giặc giỏi.

Trong dân gian có nhiều thành ngữ đúc kết, ca ngợi những đóng góp, công lao của các dòng họ trong sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ chủ quyền dân tộc, như “Đánh giặc họ Đinh, làm quan họ Đặng”, hay “Đánh giặc họ Đinh, làm quan họ Trần”... Có thể thấy trong các thành ngữ ấy, vế thứ nhất luôn được giữ nguyên như một sự khẳng định sự trường tồn về truyền thống của dòng họ Đinh. Con cháu họ Đinh hãy tự hào và cần nâng niu truyền thống vẻ vang ấy.

Nhân hiệu họ Đinh

Những người mang họ Đinh không chỉ là những chiến binh dũng cảm mà còn là những nhà lãnh đạo tài ba, những học giả uyên thâm có những đóng góp to lớn đối với đất nước và dân tộc.

Đinh Lượng (? - 43) là hào kiệt thời Trưng Nữ Vương, quê ở thôn Phúc Nghĩa, Sơn Tây, Hà Nội. Ông giỏi võ nghệ, nổi tiếng anh dũng. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, ông cùng vợ đều hưởng ứng, tích cực đánh giặc, nhiều phen vào sinh ra tử, quyết chí liều mình với quân Hán. Đến khi thế cùng, Hai Bà Trưng hy sinh, vợ ông tuẫn tiết theo, Đinh Lượng chiến đấu với giặc một trận đẫm máu cuối cùng và hy sinh trong trận đánh đó.

Đinh Kiến (? - ?) là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đường vào năm 687 ở nước ta. Ông dẫn quân bao vây đánh chiếm thành Tống Bình, bắt giết được tên quan đô hộ Lưu Diên Hựu, cô lập thành Tống Bình trong một thời gian. Tuy nhiên không lâu sau đó, nhà Đường mang quân tăng viện, thế yếu, Đinh Kiến và các đồng đội đều hy sinh anh dũng.

Đinh La Quý (852 - 936), vị cao tăng, Thiền sư lỗi lạc thời Bắc thuộc. Ông nổi tiếng tinh thông khoa học, thiên văn, tướng số. Tương truyền, Thiền sư Đinh La Quý đã từng để lại những câu sấm truyền rất ứng nghiệm như bài “Đỗ Thích thí Đinh Đinh” tiên đoán vụ án Đỗ Thích giết hại Vua Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn. Ông cũng là người chỉnh lại thế đất, phong thủy ở Cổ Pháp khi bị Cao Biền làm đứt long mạch, để sau này đất ấy sinh ra bậc đế vương Lý Công Uẩn. Ông mất năm 936, thọ 84 tuổi.

Đinh Bộ Lĩnh (924 - 979) quê ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Ông là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và lên ngôi vua, niên hiệu là Vua Đinh Tiên Hoàng, trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau thời Bắc thuộc. Vua Đinh Tiên Hoàng là vị vua sáng lập triều Đinh và đặt tên nước là Đại Cồ Việt, tên nước này tồn tại trong 86 năm, trải qua ba triều Đinh, Tiền Lê và mấy năm đầu triều Lý. Vua Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm, hưởng thọ 56 tuổi, được an táng tại lăng Trường Yên ở núi Mã Yên, xã Trường An Thượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đinh Điền (924 - 979) quê ở làng Đại Hữu, nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, là một trong số những công thần theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt. Đinh Điền người tận trung với nhà Đinh. Ông là bạn đồng hương, sinh và mất cùng năm với Vua Đinh Tiên Hoàng. Dân gian xem ông cùng Nguyễn Bặc là những biểu tượng của tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa và trung thành. Ông được triều đình Trung Hoa và Việt sử tân biên liệt vào danh sách “Giao Châu thất hùng”, tức 7 anh hùng người Giao Châu thời bấy giờ. Khi Vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, ngôi báu về tay họ Lê, ông đã không phục mà khởi binh chống lại nhưng bị Lê Hoàn đánh bại. Chính Lê Hoàn về sau lên ngôi vẫn cảm phục ông, sắc phong ông là Tể thế hộ quốc hiển ứng linh quang đại vương, các triều đại sau cũng gia phong ông là Phúc thần. Đinh Điền được lập đền thờ ở nhiều nơi thuộc Ninh Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam ngày nay.

Đinh Lễ (? - 1427) là tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh, được người đời suy tôn là Chiến thần. Ông nổi tiếng là người quả cảm, nhiều mưu lược, võ nghệ hơn người, đã cùng các tướng lĩnh tham gia nhiều trận đánh giành thắng lợi vẻ vang. Trận ở Ải Khả Lưu, quân giặc thua to, ông bắt được Chu Kiệt, chém Hoàng Thành, đuổi Trần Trí, Sơn Thọ, bắt sống nhiều tù binh, được phong là Tư Không. Trận đánh thành Nghệ An, Đinh Lễ diệt nhiều quân địch, thu nhiều vũ khí lương thực, đuổi tướng giặc Trần Hùng phải tháo chạy về tận Tây Đô. Trận Tốt Động, Trúc Động, Ninh Kiều, ông chém được tướng giặc là Trần Hiệp, Lý Lương, đánh tan năm vạn quân, bắt sống hàng vạn tên, thu nhiều vũ khí, lương thực. Trận Tây Phù Liệt ông đánh tan cuộc tấn công của địch và đuổi giặc tới Mỹ Động. Vương Thông thấy quân ta ít lại không có tiếp viện đã quay lại tấn công, ông và Nguyễn Xí đã đánh nhau rất dũng cảm đến khi voi bị sa lầy, bị quân Minh bắt nhưng ông không chịu khuất phục và đã hy sinh anh dũng. Sau khi mất, ông được phong là Bình Ngô Khai quốc, Suy Trung Tán Trị, Dực Vận Bảo Chính Công thần, Nhập Nội Tư không, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc công, tặng Hiển Khánh Đại vương, phong Thượng đẳng Phúc thần.

Đinh Liệt (? - 1471) là Danh tướng kháng Minh dưới cờ Bình Định Vương Lê Lợi. Trong trận đánh ở rừng Chi Lăng, ông giết tướng Minh là Liễu Thăng, được phong làm Tư mã, tước Đinh Thượng Hầu. Năm Giáp Dần 1434, quân Chiêm đánh cướp ở biên giới, ông vâng lệnh đem quân dẹp yên ngay. Khi triều đình Lê sơ xảy ra loạn Lê Nghi Dân cướp ngôi vua của Vua Lê Nhân Tông, ông cùng Nguyễn Xí mưu giết được Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân, bình được nội loạn. Sau Vua Lê Thánh Tông lên nối ngôi, phong ông làm Thái phó, tước Á Quận Công. Năm Canh Dần 1470, ông được sung chức Chính Lỗ tướng quân, hộ giá Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, cùng với Lê Niệm đốc suất đội chiến thuyền đi trước, chiếm được thành Đồ Bàn. Năm sau, năm Tân Mão 1471, ông mất, được truy phong là Mục vương.

Đinh Bạt Tụy (1516 - 1589) là một trí thức khoa bảng thời Lê - Trịnh, một danh thần có tài kinh bang tế thế khi ông không chỉ có những hiểu biết sâu rộng về chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn am tường về giao thông, thủy lợi, đắp đập khai mương, quy hoạch dân sự. Đinh Bạt Tụy phò tá ba triều Vua Lê là Vua Lê Trung Tông, Vua Lê Anh Tông và Vua Lê Thế Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh và được ca ngợi là một trong những “danh tướng lương thần” của triều đại. Tên tuổi và công trạng của ông đã được lịch sử ghi nhận là “Đệ nhất công thần” có những công lao to lớn đối với sự nghiệp trung hưng của nhà Lê.

Đinh Văn Tả (1601 - 1680) là danh tướng đời Vua Lê Hy Tông, quê ở làng Hàm Thượng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông gây ấn tượng với Chúa Trịnh bởi tài bắn cung bách phát bách trúng và được phong làm tướng. Từ đấy, ông lập nhiều chiến công nổi tiếng, được phong tước Lộc Quận Công, hàm Đô đốc, rồi ít lâu sau thăng lên hàm Thiếu bảo. Năm Đinh Tỵ 1677, chính ông đã tiến binh đánh tan quân đội của Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, chấm dứt luôn nhà Mạc. Đến năm Canh Thân 1680 ông mất, thọ 79 tuổi, được tặng Thái bảo, truy phong Phúc thần.

Đinh Công Tráng (1842 - 1887) là chiến sĩ Cần Vương kháng Pháp quê ở làng Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, lừng danh với chiến lũy Ba Đình - một căn cứ khởi nghĩa ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông đánh nhau với quân Pháp liên tục trong ba năm từ 1884 đến 1887, đẩy lùi rất nhiều cuộc càn quét của địch và gây cho chúng vô số tổn thất. Ông hy sinh trong đêm ngày 05 tháng 10 năm 1887 tại làng Trung Yên, Nghệ An, bên bờ sông Cả.

Đinh Quang Tích (1881 - 1942) là một nhà yêu nước quê ở làng Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Ông hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Du, rồi xuất dương sang Nhật, Trung Quốc, hoạt động cách mạng từ năm Nhâm Tý 1912. Ít lâu sau, ông bị Pháp bắt, giải về Hà Nội và mang án 20 năm lưu đày ở nước ngoài. Sau hơn chục năm bị lưu đày, ông vượt ngục, về nước cải trang làm người Trung Quốc, hoạt động ở nhiều nơi, có lúc ẩn thân trên núi Cấm ở Châu Đốc, tận tụy  với sự nghiệp cứu nước. Năm Nhâm Ngọ 1942, ông mất tại làng Tân Khánh (Sa Đéc, Đồng Tháp), thọ 61 tuổi. Ông được an táng ở làng Mĩ Xương.

Đinh Quang Tích (1881 - 1942) là một nhà yêu nước quê ở làng Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Ông hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Du, rồi xuất dương sang Nhật, Trung Quốc, hoạt động cách mạng từ năm Nhâm Tý 1912. Ít lâu sau, ông bị Pháp bắt, giải về Hà Nội và mang án 20 năm lưu đày ở nước ngoài. Sau hơn chục năm bị lưu đày, ông vượt ngục, về nước cải trang làm người Trung Quốc, hoạt động ở nhiều nơi, có lúc ẩn thân trên núi Cấm ở Châu Đốc, tận tụy  với sự nghiệp cứu nước. Năm Nhâm Ngọ 1942, ông mất tại làng Tân Khánh (Sa Đéc, Đồng Tháp), thọ 61 tuổi. Ông được an táng ở làng Mĩ Xương.

Đinh Núp (1914 - 1999), thường được gọi là Anh hùng Núp, là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dânchiến sĩ cách mạng người dân tộc Ba Na, quê làng Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai. Ông tham gia cách mạng từ năm 1935, từng trốn vào rừng dùng vũ khí tự tạo làm nỏ để bắt chết một lính Pháp. Năm 1945, Đinh Núp tham gia cướp chính quyền tại địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), ông vận động đồng bào dân tộc tham gia các tổ du kích, xây làng chiến đấu chống các cuộc càn quét của quân đội viễn chinh Pháp, tiêu hao nhiều đơn vị địch, đem lại chiến thắng tại địa phương. Sau hiệp định Geneve, ông cùng đơn vị tập kết ra miền Bắc một thời gian rồi trở về tham gia đánh Mỹ ở Tây Nguyên. Đinh Núp được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và Huân chương Chiến công hạng Nhất. Danh tiếng của ông lan sang tận nước Cuba, ông được Chủ tịch Fidel Castro mời sang thăm nước Cuba. Cuộc đời anh hùng của ông được nhà văn Nguyên Ngọc kể lại trong tác phẩm Đất nước đứng lên.

Giáo sư Đinh Xuân Lâm (1925 - 2017) được mệnh danh là một trong “Tứ trụ Lâm - Lê - Tấn - Vượng” của nền Sử học Việt Nam đương đại, bên cạnh các tên tuổi lớn khác là Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Hà Văn Tấn, Giáo sư Trần Quốc Vượng. Ông thuộc thế hệ nhà giáo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và góp công lớn trong việc xây dựng bộ môn Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại. Những tác phẩm khoa học, những bộ sách nghiên cứu mà Giáo sư Đinh Xuân Lâm dày công biên soạn được xem là những cuốn giáo trình kinh điển cho công tác đào tạo ngành Sử.

Dòng họ Đinh với bề dày lịch sử và những đóng góp to lớn không chỉ là niềm tự hào của những người mang họ Đinh mà còn của cả dân tộc Việt Nam. Những giá trị truyền thống tốt đẹp và tinh thần kiên cường, bất khuất của dòng họ Đinh đã và đang được truyền lại qua các thế hệ, trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của dòng họ trong hiện tại và tương lai.

Tổng quan về dòng họ Đinh Việt Nam

258 Lượt xem
other
Tặng đá Báo cáo
Chia sẻ

Ý kiến (0)