để tặng cho tác giả tài liệu này

Đã đánh giá tài liệu
Cảm ơn bạn đã phản hồi
Tác giả: Nguyễn Châu Linh, Khiêm Nguyễn, Danny Võ
Nhà cung cấp: DBI
“Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”, vậy làm thế nào để muôn đời sau con cháu vẫn có thể tìm về nguồn cội? Cuốn Gia phả học tinh hoa sẽ giúp triệu gia đình Việt bảo tồn gia bảo, gìn giữ gia phong, chấn hưng dòng tộc! Quốc gia hay gia tộc, dòng họ thịnh suy đều phụ thuộc vào việc thế hệ nối tiếp thế hệ biết trân quý cái gốc tiền nhân đã cất công xây dựng. Gia phả vừa là một công cụ gìn giữ truyền thống dòng họ, vừa đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học về con người và xã hội. "Gia phả học Tinh hoa" đóng gói những nội dung cơ bản về Gia phả học: Lịch sử hình thành và phát triển gia phả; tầm quan trọng của gia phả đối với đời sống của từng cá nhân, gia đình, dòng họ và dân tộc; mối quan hệ của gia phả học với các ngành khoa học khác; phương pháp xây dựng gia phả và ứng dụng công nghệ trong xây dựng gia phả..., giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với môn Gia phả học.
Gia phả ở Châu Á xuất hiện sớm hơn các nước Châu Âu, sớm nhất là ở Trung Quốc với bộ gia phả mang tên “Thế bản” được soạn năm 722 TCN. Ngay từ thời Thương và Chu, Trung Quốc đã là một nền văn minh lớn của thế giới, với tông pháp, điền chế, binh chế, pháp chế, học thuật được củng cố và phát triển. Một số nước Châu Á có lịch sử gia phả lâu đời và mang nhiều giá trị lịch sử cũng như giá trị văn hóa là Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ,...
Trung Quốc là nơi xuất hiện gia phả sớm nhất ở Châu Á, gia phả đã xuất hiện tương tự “Thế bản” từ thời nhà Chu (1046 – 256 TCN), ghi lại cuộc sống của những gia đình hoàng tộc và lịch sử một cách toàn diện và có hệ thống. Tuy gia phả Trung Quốc có từ thời nhà Chu nhưng phải đến đời nhà Ngụy (220 - 265) thì phạm vi gia phả mới được mở rộng. Gia phả bắt đầu phát triển trong suốt thời kỳ Tam Quốc [40] (220-280), thời nhà Tấn (280-420), thời Nam Bắc Triều (420-589). Một số lượng lớn các cuốn sách gia phả nổi tiếng ra đời trong giai đoạn này.
Gia phả Trung Quốc bắt đầu chuyển đổi trong thời nhà Tống (960-1279). Nội dung và cách viết gia phả đã trở thành tiêu chuẩn khi được mở rộng, bao gồm các nghi lễ, phép tắc gia đình, chân dung tổ tiên, biểu đồ lăng mộ và địa bạ. Việc biên soạn gia phả và các nội dung viết về tổ tiên chịu ảnh hưởng của tinh thần Tống Nho, phải chấp hành các nguyên tắc “tam cương ngũ thường” [1]. Trong quá trình này, các nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho cả gia đình và dòng họ như lý tưởng về lòng hiếu thảo, về chung sống và phân chia tài sản, sự phụ thuộc của phụ nữ đối với nam giới, cách thức cúng bái tổ tiên, tài sản được gìn giữ để tế lễ… cũng được ghi chép rõ trong gia phả. Bắt đầu từ đời vua Minh Thế Tông (1507 – 1567) đời nhà Minh, do lệnh của nhà vua nên rất nhiều từ đường đã được xây dựng. Nhiều từ đường không chỉ là nơi tổ chức cúng giỗ tổ tiên cho một gia đình, dòng họ mà cho cả một làng, một huyện. Trải qua nhiều thế kỷ, mỗi gia đình gia tộc ở Trung Quốc đều có một cuốn gia phả, Trung Quốc là một nước đứng hàng đầu chiếm số lượng gia phả nhiều nhất thế giới.
Nhật Bản cũng như các quốc gia khác, vào thời thượng cổ chưa có chữ viết nên lịch sử quốc gia, gia phả, tộc thư và truyện kể thường được truyền miệng. Mặt khác, vào thời thượng cổ, dân tộc Nhật Bản chưa ý thức được rõ rệt việc ghi chép tên tuổi, dòng họ, tức là chép gia phả. Sau này do tiếp xúc với Trung Quốc, chữ viết ra đời, lúc đó các truyện kể, truyền thuyết mới được ghi chép bằng chữ. Các bản tộc phả, tộc thư khi đó phần lớn là chép về các Thiên hoàng Nhật Bản. Trong đó có Cổ sự ký (Kojiki) là bộ phả lớn từ thời hoang sơ đến triều Thiên hoàng Suiko (554 – 628). Trải qua thời gian dài, việc chép phả được phổ biến, hầu hết các gia đình Nhật Bản đều có phả riêng chép sự phát triển lịch sử và thành tích của tổ tiên, các gia đình thường dựng bia tưởng niệm ông tổ sáng lập dòng họ và đất nước.
Tộc phả Hàn Quốc khởi nguồn từ thời đại Tam Quốc [2] - Cao Câu Ly (Goguryeo), Bách Tế (Baekje), Tân Lan (Silla). Gia đình hoàng tộc luôn coi trọng việc tiết lộ danh tính dòng dõi của mình hơn bất kỳ gia đình nào khác trong xã hội, bởi điều này có liên quan trực tiếp đến chính quyền mà người đứng đầu là nhà vua. Vì vậy, có thể tìm thấy hồ sơ gia đình hoàng tộc từ thời Tam Quốc. Tuy ngày nay những tài liệu này không còn, nhưng việc ghi chép về các tài liệu này còn được lưu giữ trong Tam Quốc Sử Ký và Cao Ly Sử. Gia phả học tại Hàn Quốc với “Jokbo” - hệ thống phả hệ phổ biến, hoặc “Kojiki” của Nhật Bản, ghi chép các hoàng tộc được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Riêng tộc phả Hàn Quốc khá hoàn thiện về thể chế và phương pháp ghi chép, đồng thời lại có mức độ phổ cập quốc gia rất cao. Đó cũng là một trong những lý do dẫn đến Hội nghị Tộc phả thế giới mùa hè năm 1991 tại Seoul có học giả trên 180 nước và khu vực tham gia.
Có thể thấy, tại các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của Nho giáo, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo trung, đạo hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc. Đông Á nói riêng hay phương Đông nói chung, trong đó có Việt Nam, đều có một nền gia phả lâu đời và đặc sắc.
—---------------------
[1] Tam cương ngũ thường là hệ thống chuẩn mực đạo đức trong xã hội, chính trị do Khổng Tử đề xuất, bao gồm "tam cương" (Quân – Sư – Phụ) và "ngũ thường" (Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín).
[2] Trước khi bán đảo Triều Tiên được thống nhất dưới triều đại Goryeo, giai đoạn từ 50 TCN đến 935 SCN, bán đảo này trải qua thời kỳ Tam Quốc gồm Baekje (18 TCN – 660 SCN), Goguryeo (37 TCN – 668 SCN), và Silla (57 TCN – 935 SCN).
[40] Võ Ngọc An (2014), Gia phả học tinh tuyển, trang 184.
Ý kiến (0)