DJC

Đã đánh giá tài liệu

Cảm ơn bạn đã phản hồi

Sách Gia phả học Tinh hoa

Đã mở khóa tài liệu này

Đối tượng của gia phả học chính là gia đình và dòng họ. Gia đình - dòng họ có trước, gia phả có sau. Nội dung của gia đình - dòng họ được phản ánh qua gia phả. Vì vậy, trước hết phải hiểu thấu đáo về gia đình và dòng họ. Việc nhận thức gia đình và dòng họ càng sâu sắc càng bảo đảm cho việc nghiên cứu và thực hành gia phả đạt chất lượng cao. Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Nước có Sử, Nhà có Phả, Sử để ghi lại những sự kiện của đất nước, Phả là để ghi lại những thăng trầm của một họ tộc. Gia phả khác với lịch sử ở chỗ là chỉ dừng trong phạm vi một nhà, một dòng họ, trong khi Sử lại bao gồm hết thảy sự việc hoặc hành động của nhiều người ở nhiều họ khác nhau nhưng liên quan mật thiết tới quốc gia.

5.1. Gia đình

5.1.1. Tìm hiểu về bản sắc

a) Khái niệm bản sắc

Tố Hữu từng viết về bản sắc, ông cho rằng bản sắc chính là những đặc trưng trong phẩm cách. Các dân tộc ở nước ta có cùng bản sắc – nét đặc trưng như: lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng thương yêu con người, lòng tự trọng, coi trọng thực tiễn, ứng xử khôn ngoan, trung thực và lối sống giản dị, thanh đạm (Tố Hữu, 2001). Trần Ngọc Thêm cho rằng, bản sắc chính là giá trị đặc sắc cơ bản: “Bản sắc dân tộc - đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của nó” (Trần Ngọc Thêm, 2001). Trần Đình Hượu viết về bản sắc như những gì “quen thuộc” và “độc đáo”, mà nhờ đó, mỗi chủ thể có thể được phân biệt : “Bàn về đặc sắc dân tộc của văn hóa là bàn về một cái gì đã gắn bó từ thủa xa xưa... Đặc sắc dân tộc của văn hóa làm cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với các dân tộc khác...” (Trần Đình Hượu, 1995). 

Các học giả phương Tây, như Zdzislaw Mach và Peter Weinreich định nghĩa bản sắc trên bình diện chủ quan. Trên bình diện đó, chủ thể văn hóa đã phản ánh và định hình quá trình tâm lý của mình. Zdzislaw Mach xác định: “Ở cấp độ bản sắc cá nhân là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong quan hệ với những người khác?”. Ở cấp độ xã hội đó là câu trả lời cho câu hỏi: “Chúng tôi là ai trong những mối quan hệ với nhóm người khác” (Zdzislaw Mach, 1993). Weinreich cho rằng: “Bản sắc của một cá thể là tổng thể của phân giải cá nhân, qua đó cách mà cá thể phân giải chính mình ở hiện tại được tiếp tục từ các cá thể phân giải chính mình trong quá khứ, cũng như truyền cảm hứng cho tiến trình phân giải chính mình trong tương lai” (Weinreich, 1986).

Các học giả Việt Nam và phương Tây đã từng đưa ra các khái niệm về bản sắc dựa trên các cách tiếp cận khác nhau, mà theo đó: “Nếu cách tiếp cận của học giả Việt Nam thiên về bình diện khách quan của chủ thể, gần với cách nghiên cứu đặc trưng (characteristic), tính cách (character) văn hóa thì cách tiếp cận bản sắc (identity) của học giả phương Tây lại thiên về bình diện chủ quan của chủ thể văn hóa. Đây là cách tiếp cận bắt nguồn từ tâm lý học văn hóa…” (Nguyễn Văn Hiệu, 2018).

Dựa vào cách tiếp cận bắt nguồn từ tâm lý học văn hóa, trong cách hiểu đơn giản, bản sắc cá nhân chính là ý thức về bản thân mà một cá nhân phát triển trong suốt quá trình trưởng thành. Vậy nên bản sắc này không cố định mà luôn thay đổi khi mỗi người trải nghiệm những chiều không gian, trải qua những giai đoạn thời gian mới trong cuộc sống. Khi nói đến việc xác định bản sắc cá nhân, cơ bản là nói đến việc một cá nhân trăn trở và cố gắng đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi như: họ là ai, họ thuộc về nơi nào và điều gì là quan trọng đối với họ. Mỗi người đều có một cách thức nhận dạng của chính mình. 

Từ góc độ tâm lý học, xã hội học và nhân học, bản sắc đề cập đến nhận thức định hướng hành vi của một cá thể về ba đối tượng: chính cá thể đó, cá thể khác hoặc một nhóm xã hội. Từ việc xác định này mà bản sắc được chia thành các nhóm như bản sắc cá nhân, bản sắc dân tộc. Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc. Chỉ những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác mới được xem là bản sắc. 

b) Vai trò của bản sắc

Từ việc xác định bản sắc, mỗi cá nhân định hình nhân cách và biểu hiện lối sống. Nhân cách được nhìn nhận là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân, biểu thị bản sắc và giá trị xã hội của con người. Còn lối sống được hiểu là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc hay là cả một nền văn hóa.

Nhân cách và lối sống của một cá nhân hay cả một dân tộc đều hiện hữu và biểu thị đặc trưng của bản sắc. Trong quyển sách bất hủ “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, tác giả Trần Văn Giàu đã nghiên cứu và đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống - cũng chính là nhân cách và lối sống đặc thù của dân tộc Việt Nam, khi ông tập trung phân tích một cách có hệ thống và khoa học bảy đức tính tốt đẹp, bao gồm: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” (Trần Văn Giàu, 1980). Các giá trị được lưu truyền, phát huy qua nhiều thế hệ này đã biểu thị nét đẹp truyền thống của bản sắc văn hóa Việt Nam - biểu thị những nét đặc trưng làm nên sắc thái, bản lĩnh và dấu ấn riêng của một dân tộc quật cường, bác ái. 

Trong nhiệm vụ bảo vệ độc lập, xây dựng và phát triển đất nước thì gốc rễ là bảo vệ bản sắc văn hóa. Bởi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cá nhân và bản sắc, cốt cách dân tộc. Bản chất của nhiệm vụ trọng tâm này đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền và được định hướng rất rõ trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, nhất là từ Đại hội lần thứ XI, XII, XIII của Đảng về tính định hướng chiến lược lâu dài về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Trong khuôn khổ của Hội nghị Trung ương về Văn hóa và Con người, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng ta, đã đúc kết và thống nhất nhiều nội dung trọng yếu, vận dụng bảy phạm trù có giá trị tinh thần là: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” mà tác giả Trần Văn Giàu nghiên cứu, làm thành đặc tính của con người Việt Nam hiện đại là: “yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” (Nghị quyết số 33-NQ/TW, 2014). Trong thời gian qua, các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam cũng đã được cụ thể hóa trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước, ghi rõ trong Hiến pháp. Nhằm định hướng xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong tình hình mới, Đảng ta còn nêu rõ các quan điểm, mục tiêu và giải pháp thực hiện. Trong đó, nâng cao trình độ văn hóa cũng được chú trọng. 

Trình độ văn hóa là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực, kỹ năng làm việc của một người. Bởi thường được nhìn nhận với vai trò này, mà trình độ văn hóa được dùng để chỉ cấp độ học tập theo các bậc học phổ thông (được thể hiện trong mẫu sơ yếu lý lịch) hay chỉ trạng thái, khả năng hiểu biết cao hay thấp của một người đối với những kiến thức về cơ bản và tri thức chuyên môn kỹ thuật. Cũng từ góc độ này mà trình độ văn hóa của con người Việt Nam so với các cường quốc khác thường được cho là kém phát triển hơn. Từ nhận định này, mà những mục tiêu, chiến lược nhằm nâng cao trình độ văn hóa đã được vạch định, thực thi và mang lại nhiều thành tựu to lớn. 

Song, để nâng cao trình độ văn hóa thì nền móng văn hóa cũng cần phải vững vàng. Vào năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn từng có một thống kê về định nghĩa văn hóa, trong đó có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa xuất hiện trong các công trình nổi tiếng. Người đầu tiên định nghĩa khá đầy đủ cho cụm từ “văn hóa” là Nhà nhân loại học Edward B.Tylor. Theo đó, văn hóa được cho là “một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” (Tylor, 1871). Bàn về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 1943). Nhà nghiên cứu Thanh Lãng từng dẫn lời của hai nhà nhân chủng học Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn để bày tỏ cảm nghĩ về văn hóa trong bài viết “Có nên định nghĩa văn hóa không?” như sau: “Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa. Nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu, mông lung hơn là hai chữ “văn hóa”. Người ta không thể phân tách văn hóa, vì thành phần nó vô cùng tận… Người ta không thể mô tả văn hóa, vì nó muôn mặt muôn hình. Muốn cô đọng ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng y như tay không bắt không khí: ta sẽ thấy không khí ở khắp mọi nơi, mà riêng trong tay ta thì chẳng nắm được gì” (Thanh Lãng, 1959). Tiền cảnh và mục đích nghiên cứu khác nhau cũng có thể dẫn đến các diễn giải về văn hóa khác nhau, tùy theo quá trình nhận thức và phát triển của con người. Văn hóa là một khái niệm rất rộng và phức tạp. Trình độ văn hóa, theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần của một cá nhân, một nhóm người, một xã hội - trong đó chứa đựng cả cách sống, lối sống. Lịch sử dân ta là lịch sử hào hùng, bi tráng. Nếu bản sắc nước ta không vững vàng, nếu lối sống của dân ta không quật cường, nếu nhân cách của các vị anh hùng ta không cao đẹp thì chiến thắng đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất và phát triển nước nhà đã không hiện hữu. Đây cũng là minh chứng cho thấy một “trình độ văn hóa Việt Nam cao cấp” mà mỗi con dân đất Việt máu đỏ da vàng có thể khẳng khái tự hào và mạnh mẽ phát huy.

Có thể thấy, đặc trưng và vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ được luận giải qua cơ sở lý thuyết mà còn qua vận dụng thực tiễn. Bảo vệ bản sắc dân tộc là gốc rễ của phát triển văn hóa, con người và là kim chỉ nam đúng đắn nghìn đời mà từ buổi bình minh của lịch sử, qua thời kỳ phong kiến vừa độc lập, vừa đấu tranh giành lại chủ quyền lãnh thổ, đến thời kỳ hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa như hiện nay, dân tộc ta, người Việt ta, ngày càng nhận thức rõ ràng, sâu sắc hơn. 

c) Tính thách thức của bản sắc

Ý thức về bản sắc dân tộc luôn chảy trôi mạnh mẽ trong nhận thức lẫn hành động của toàn dân tộc ta nhưng dường như ý thức về bản sắc cá nhân lại chưa được chú trọng nêu cao, tương ứng với vai trò mà nó mang lại. Xã hội thường nêu gương “nhân cách vàng”, truyền thông thường đề cập “lối sống đẹp” nhưng việc một cá nhân có bản sắc vững vàng thì thường ít được bàn đến. Trong khi, bản sắc mới chính là gốc rễ: Từ việc xác định bản sắc, mỗi cá nhân định hình nhân cách và biểu hiện lối sống. Có lẽ, bởi “bản sắc” là cái gốc nằm sâu trong nhận thức, còn nhân cách và lối sống thì có thể được nắm bắt và nhận thấy rõ ràng qua hành vi bên ngoài. Trong một xã hội hiện đại thường có xu hướng đánh giá con người qua hình thức vật chất bên ngoài như hiện nay thì việc xây dựng và củng cố các giá trị bên trong (như bản sắc) là vô cùng quan trọng. 

Bởi bản sắc có mối quan hệ sâu sắc với những giá trị cơ bản của một cá nhân và nó ảnh hưởng đến tất cả những sự lựa chọn (hành vi, quyết định) trong cuộc sống nên khi con người không tìm được bản sắc của riêng mình, họ thường sẽ dễ bị hòa mình vào những giá trị không phù hợp bên ngoài và tạo dựng những hành vi không lành mạnh, thậm chí là độc hại. Hay, trong quá trình trưởng thành, với nhiều thách thức và mất mát, cũng có thể khiến cá nhân gặp phải “khủng hoảng bản sắc” (Identity crisis) hay còn gọi là “khủng hoảng danh tính/ căn tính”. 

Ắt hẳn, mọi người đều đã từng vô tình lẫn hữu ý, tự đặt ra các câu hỏi về ý thức của bản thân hoặc vai trò, vị trí của mình trong cuộc đời, ví dụ như về sự nghiệp, bản sắc giới, vai trò, nghĩa vụ trong gia đình, xã hội… Một người mắc phải khủng hoảng bản sắc là người không chỉ đắn đo và đặt ra những câu hỏi mà còn chịu sự căng thẳng, áp lực lớn khi đi tìm câu trả lời - khi toàn bộ quá trình này bắt đầu cản trở cuộc sống hàng ngày, khiến họ không còn nắm rõ về điểm mạnh, điểm yếu, tính cách, vai trò... về tất cả những gì tạo nên bản thân họ.

Theo Erikson - Nhà tâm lý học được biết đến với lý thuyết nổi tiếng về sự phát triển tâm lý xã hội và sự cho ra đời khái niệm về khủng hoảng bản sắc, cho rằng: Khủng hoảng bản sắc là khoảng thời gian phân tích sâu sắc và khám phá những cách nhìn nhận khác nhau về bản thân (Erik H. Erikson, 1968). Phát triển ý thức về bản sắc là quan trọng trong những năm thiếu niên, mặc dù sự hình thành và phát triển bản sắc không chỉ giới hạn ở độ tuổi này mà có thể diễn ra trong suốt cuộc đời, khi mọi người đối mặt với những thử thách và những trải nghiệm khác nhau. Vì vậy, nguy cơ khủng hoảng bản sắc có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. 

Khủng hoảng bản sắc là thách thức và cũng là cơ hội để cá nhân tự khẳng định và tái xác lập bản sắc của chính mình. Dẫu vậy, với một số người gặp khó khăn trong việc tìm lại chính mình và có sự ám ảnh nhất định về điều tiêu cực mình đã trải qua, có khả năng cao gặp phải điều mà những chuyên gia tâm lý gọi là hội chứng đánh mất bản sắc (psychological identity) hay gọi một cách dễ hiểu là đánh mất chính mình. Hội chứng được mô tả việc một nỗi đau có thể khiến chúng ta đột nhiên cảm thấy mình vô giá trị, cảm thấy tất cả sự tự tin và hạnh phúc của mình như mất hết, khiến chúng ta rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Bản sắc có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của không chỉ mỗi cá nhân mà còn của mỗi một dân tộc.

Theo “Từ điển tâm lý học” bản sắc là “cái cội gốc riêng biệt, với những sắc thái độc đáo của bản ngã một con người hay của một dân tộc”Bản sắc cá nhân và bản sắc xã hội không tách bạch mà có sự tác động qua lại lên nhau (Nguyễn Khắc Việt, 1995)Bàn luận về vai trò của văn hóa trong kiến tạo bản sắc, Nguyễn Văn Hiệu từng nhận định: “Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước những tác nhân có thể dẫn đến rối loạn bản sắc (confused identity), nhu cầu này ngày càng lớn và những ai có được nguồn cội vững chắc, thiêng liêng sẽ cảm thấy được rõ hơn đâu hết bản sắc của mình và đó cũng là nền tảng vững chắc để một cá nhân đi vào thế giới hiện đại.” [4]

Vậy nguồn cội mang vai trò to lớn để cá nhân đi vào thế giới hiện đại nói riêng và thế giới của mọi thời đại nói chung ấy đến từ đâu? Mạch nguồn thiêng liêng, cội cây vững chắc ấy đến từ “gia đình” - nơi đầu tiên kiến tạo các giá trị văn hóa, góp phần cấu thành bản sắc con người.

5.1.2. Vai trò của văn hóa gia đình trong kiến tạo bản sắc

a) Gia đình là gì? 

Trong quá trình phát triển của xã hội ai cũng coi trọng gia đình, dòng tộc. Nhờ gia đình, con người được nuôi dưỡng, bảo bọc ngay từ lúc sinh ra, đến thời thơ ấu với những bước đi chập chững đầu tiên, từ tuổi ăn học cắp sách đến trường. Kể cả cho đến khi trưởng thành, gia đình vẫn là chỗ dựa bền vững, là bệ phóng vào đời, đồng thời là nguồn động lực, năng lượng vô tận cho các hoạt động mưu sinh, kiếm sống nhằm xây dựng tổ ấm gia đình [5].

Dường như bởi tính thân thuộc và thiêng liêng vốn có của gia đình mà tự thân mỗi cá nhân – dẫu không phải là một nhà nghiên cứu chuyên sâu, cũng có thể luận giải bản chất của gia đình. Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình dựa trên các góc nhìn, mục tiêu nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như: “Gia đình là một hiện tượng mang tính tổng thể, một cơ cấu đa diện mang tính sinh học, kinh tế, xã hội và văn hóa. Do vậy, khi quan tâm tới gia đình về phương diện văn hóa, gia phong thì cũng không thể tách rời những đặc tính xã hội và kinh tế của nó” (Ngô Đức Thịnh, 2006); “Gia đình là một xã hội thu nhỏ bao gồm một hay nhiều thế hệ khác nhau sống và hoạt động bên nhau một cách có tổ chức, nguyên tắc thành văn hay bất thành văn. Sự hòa thuận được đảm bảo bởi sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương” (Vũ Dũng, 2008); hay “Gia đình - một cộng đồng người gắn bó mật thiết với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng được chế ước bằng các quy định pháp lý và luật tục xã hội” (Nguyễn Hồng Mai, 2010).

Từ các định nghĩa trên, có thể nhận định rằng: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức, pháp lý với nhau, nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện việc nối truyền nòi giống.

Có thể phân chia gia đình thành hai loại:

• Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm người trực hệ và bàng hệ ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thế hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ.

• Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con.

Gia đình ngay từ đầu là một tồn tại văn hóa, một thực thể văn hóa tất nhiên trong mối liên hệ khăng khít với những yếu tố sinh học và giới tính. [6] Sự “tồn tại văn hóa” tất nhiên của gia đình không chỉ là sự tồn tại với các quy tắc đơn thuần mà là hệ thống các quy tắc gắn với các hoạt động của đời sống xã hội, gọi là thiết chế.

Các thiết chế không tự mình tổ chức các hoạt động (self- organizing) mà phụ thuộc nhiều hơn vào các thiết chế khác để thực thi các quy tắc nội bộ của mình, trong quan hệ tương tác với xã hội (social interactions). Về phương diện xã hội, gia đình được hình thành xuất phát từ các mối quan hệ hôn nhân, tạo nên hệ thống cấu trúc các dòng họ khác nhau, có sự tương tác lẫn nhau trong các hoạt động của đời sống xã hội. Cho nên, gia đình có thể tồn tại độc lập như một thiết chế văn hóa, không phụ thuộc vào sự can thiệp của các thiết chế khác. Theo quan điểm phát triển của văn hóa, gia đình là một phức hợp liên quan đến hệ thống các quy tắc hôn nhân, di truyền và dòng họ, cấu thành các khuôn mẫu, giá trị chuẩn mực phổ biến của đời sống gia đình. Dù có những biến đổi nhất định tùy lúc tùy nơi nhưng gia đình vẫn là tác nhân, thành tố văn hóa trong sự phát triển đời sống xã hội. [7]

b) Văn hóa gia đình là gì?

Văn hóa gia đình là đối tượng nghiên cứu của Văn hóa học. Ngay từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, đã có một vài cuốn sách đề cập đến văn hóa gia đình. Tuy nhiên, khi nhắc đến văn hóa gia đình, các tác giả thường không đưa ra định nghĩa về khái niệm văn hóa gia đình mà chủ yếu đi sâu mô tả những biểu hiện cụ thể của nó. Văn hóa gia đình thể hiện ở thuần phong, mỹ tục, nếp sống, tác phong của các thành viên trong gia đình; được thể hiện ở sự ứng dụng những tri thức khoa học, y học, giáo dục học, tâm lý học, thẩm mỹ... để tổ chức gia đình, giáo dục con người, nhất là về mặt tinh thần. Văn hóa gia đình còn được biểu hiện ở sự hiếu thuận của con cháu đối với cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên; biểu hiện ở sự nêu gương về nhân cách văn hóa trong gia đình và ở truyền thống gia phong của gia đình, dòng họ.

Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội. [8] Từ nhận thức này, chúng ta thấy có sự khác biệt giữa văn hóa gia đình và gia đình văn hóa. Nếu gia đình văn hóa là gia đình được xã hội thừa nhận đã đạt được tiêu chuẩn nào đó về văn hóa theo quy ước, thì văn hóa gia đình là văn hóa trong cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và giữa gia đình với xã hội.

Tóm lại, gia đình đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiến tạo nên nền tảng vững chắc cho bản sắc cá nhân bởi trong một nền văn hóa, gia đình là đơn vị cơ bản nhất và là một trong những thiết chế văn hóa xã hội đặc thù nhất, bền vững nhất. Đến lượt mình, cũng từ những cơ sở này gia đình là một trong những đơn vị những thiết chế tiêu biểu nhất cho bản sắc cộng đồng của một nền văn hóa nơi được coi là cội nguồn thẳm sâu của ý thức về căn tính của một cá nhân, nhất là đối với những nền tảng văn hóa Á Đông, có truyền thống Nho giáo và vốn coi trọng gia đình nguồn cội như Việt Nam. [9]

c) Vai trò kiến tạo bản sắc của văn hóa gia đình trong các loại hình gia đình cụ thể

  • Trong gia đình Việt Nam (đại diện gia đình phương Đông) 

Vai trò kiến tạo bản sắc của văn hóa gia đình Việt cũng đã được TS. Nguyễn Văn Hiệu lý giải qua các nguyên do sau:

Một là, Việt Nam hiện nay đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vì vậy đến nay về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với hầu hết lĩnh vực văn hóa vẫn thiên về các phạm trù văn hóa truyền thống [...]. Xã hội truyền thống và thiên về truyền thống hầu như không có ngoại lệ trong việc mang những đặc trưng chung như tính gần gũi, thân thuộc và đặc biệt là sự coi trọng tính cố kết cộng đồng và tính tôn ti; riêng với người Việt, các đặc điểm này ngày càng sâu đậm do truyền thống sản xuất nông nghiệp lúa nước mang lại.

Hai là, nói đến gia đình là nói đến tổ chức cộng đồng theo huyết thống, nguyên tắc tổ chức bền chặt nhất trong các loại nguyên tắc dẫn đến cố kết cộng đồng với hai đơn vị cơ bản là gia đình và gia tộc. Trong đó, gia tộc là “đơn vị xã hội trường tồn mà các thành viên của nó tự cho là xuất thân cùng một tổ tiên” và “tư cách thành viên của một cá nhân nào đó trong nhóm họ tộc được xác định ngay khi cá nhân đó được sinh ra và được duy trì suốt đời”. Đây chính là cơ sở quan trọng để một cá nhân xác định căn tính của mình và truyền thống gia đình. Niềm tự hào về tổ tiên, dòng họ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì căn tính, bồi đắp bản sắc.

Đối với người Việt, tính cố kết cộng đồng, niềm tự hào về tổ tiên, dòng họ càng được thấm sâu vào tâm thức khi được củng cố bởi truyền thống thờ cúng tổ tiên. Cho đến nay, đây vẫn là một tín ngưỡng, một lễ thức văn hóa có sức nối kết mạnh mẽ với các thành viên, với tư cách là một trong những nền tảng quan trọng nhất của hệ giá trị gia đình Việt Nam và là nền tảng của ký ức cộng đồng. Ở đây không chỉ là chuyện về gắn kết trách nhiệm vì có cùng một tổ tiên mà còn là ý thức về cội nguồn, về bản sắc của mình [...]. Bàn thờ tổ tiên, các lễ thức và lễ nghi ngày tết, ngày giỗ, bữa cơm gia đình... là những biểu tượng văn hóa gia đình đặc sắc gắn kết người Việt với quê hương, với nguồn cội gia đình.[10]

Trong truyền thống, gia đình Việt Nam rất chú trọng xây dựng nếp nhà với gia đạo, gia phong và gia quy. Gia đạo là đạo đức của gia đình lấy chữ “hiếu” làm đầu. Gia lễ là phép ứng xử của con người theo một nguyên tắc có tôn ti trật tự, theo lễ tiết. Gia lễ, gia đạo được hình thành qua nhiều năm, nhiều đời thì tạo nên gia phong. Nói cách khác, gia phong hình thành từ mối quan hệ giữa con người với con người, từ lòng nhân ái, tình yêu thương, thuần phong mỹ tục của dân tộc được thấm đậm trong tâm hồn mỗi con người của gia đình, dòng họ; bởi vậy, nó mang tính nhân văn cao cả, đòi hỏi mọi người tu dưỡng theo khuôn phép kỷ cương của một gia đình, một dòng họ. Đây cũng là nền tảng diễn giải cho nguyên do thứ ba:

Ba là, người Việt Nam nói chung và người Kinh nói riêng rất coi trọng vai trò của giáo dục, đặc biệt là giáo dục trong gia đình. Trước hết là chuyện gia phong [...]. Giáo dục truyền thống luôn là nội dung quan trọng trong giáo dục gia đình, trong đó giáo dục đạo làm người là hạt nhân. Về phương pháp, giáo dục từ sớm (“dạy con từ thuở còn thơ”) và nêu gương là hai phương pháp, cách thức căn bản.

Nhìn chung giáo dục trong gia đình người Việt hướng đến các giá trị căn bản thường thấy của một gia đình thuộc phạm trù văn hóa truyền thống và được nhấn mạnh hơn bởi ảnh hưởng của Nho giáo như: giáo dục cá nhân quý trọng các giá trị gia đình, gắn bó và có trách nhiệm với gia đình, với ông bà tổ tiên gồm cả việc phải sống sao cho ông bà tổ tiên “ngậm cười nơi chín suối”; giáo dục nhân cách, đạo đức, “tiên học lễ, hậu học văn”; người nhỏ hiếu thuận; người lớn khoan hòa… Trên cơ sở đó, mỗi cá nhân người Việt thực sự là một thành viên gắn với gia đình và hơn hết, gia đình chính là bản sắc tập thể thiêng liêng với những giá trị và biểu tượng không thể thiếu nếu người Việt có truy vấn về căn tính và bản sắc của mình.

Sự kiến tạo căn tính và bản sắc từ nền tảng gia đình không chỉ bắt nguồn từ giáo dục - hiểu theo nghĩa hẹp là dạy dỗ và chăm sóc. Với tư cách là một đơn vị văn hóa, một thiết chế văn hóa - xã hội, gia đình còn là môi trường văn hóa để một cá nhân có thể vừa vô thức vừa hữu thức tiếp nhận các giá trị văn hóa của chính gia đình và của xã hội thông qua môi trường văn hóa gia đình - một quá trình văn hóa hóa đích thực. Cũng với các tư cách trên, gia đình cũng tự mình là một cộng đồng có bản sắc và đó là bản sắc có mối quan hệ chặt chẽ, thiêng liêng và sâu đậm nhất đối với bản sắc của một cá nhân bên cạnh bản sắc dân tộc.[11]

Tóm lại, gia đình là một trong những cội nguồn bản sắc và gia đình của người Việt có ý nghĩa đặc biệt về phương diện này. Dựa trên tư duy đa chiều (multidimensional thinking), các nhà nghiên cứu cũng đã xem xét vai trò của văn hóa gia đình Việt trong kiến tạo bản sắc từ góc độ, luồng tư duy ngược lại để thấy được hết những tác động của nó trong lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên không có gì không có tính hai mặt của nó. Nếu như các xã hội thuộc phạm trù văn hóa truyền thống có điểm mạnh trong việc kiến tạo bản sắc cá nhân, tạo nên những ràng buộc thiêng liêng giữa cá nhân với gia đình, dòng họ thì cũng chính những điểm mạnh ấy trở thành lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của cá nhân và của cả cộng đồng trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa và hội nhập tri thức như hiện nay. [12]

  • Trong gia đình Mỹ (đại diện gia đình phương Tây) 

Ở trên là diễn giải về vai trò kiến tạo bản sắc của văn hóa gia đình Việt, cũng là đại diện cho nhiều văn hóa gia đình Á Đông khác và kèm theo gợi mở về thách thức của vai trò đó trong bối cảnh thời đại ngày nay. Vậy, trong những gia đình phương Tây, ở những quốc gia đi đầu trong phong trào hiện đại hóa và hội nhập tri thức thì văn hóa gia đình mang một hình thái như thế nào và vai trò kiến tạo bản sắc của nó thể hiện ra sao? 

Lấy ví dụ văn hóa gia đình Mỹ, ta cũng thấy được tầm quan trọng trong việc kiến tạo bản sắc của văn hóa gia đình. Nước Mỹ vốn là một quốc gia đa chủng tộc, đây là nơi sinh sống của rất nhiều người có màu da và nền văn hóa khác nhau. Do đó, nước Mỹ còn có tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hay Hợp chúng quốc Mỹ (United States of America). Bên cạnh đó, dân số của Hoa Kỳ khá đông và tại quốc gia này có sự pha trộn của nhiều sắc tộc do các cuộc di dân từ các châu lục khác đến. Cùng với chính sách nhập cư thu hút nhân tài đã khiến Hoa Kỳ trở thành một quốc gia đa sắc tộc. Năm 2012, Đại học Virginia đã hoàn thành một nghiên cứu dọc [13] và đã xác định bốn kiểu văn hóa gia đình phổ biến ở Mỹ. Mỗi loại hình văn hóa gia đình hầu như được đại diện như nhau bởi các gia đình Mỹ thuộc mọi tầng lớp xã hội, với khoảng 20% ​​-25% các gia đình đồng nhất với mỗi loại hình. Theo báo cáo nghiên cứu “Văn hóa của các gia đình Mỹ ”, mỗi loại đại diện cho một cấu hình phức tạp của niềm tin, giá trị và thiên hướng đạo đức – những thứ thường tiềm ẩn và hiếm khi được thể hiện rõ ràng trong cuộc sống hàng ngày, phần lớn độc lập với các yếu tố nhân khẩu học cơ bản như chủng tộc, dân tộc và tầng lớp xã hội. Bốn loại văn hóa gia đình phổ biến gồm:

Văn hóa gia đình trung thành (Faithful Family Culture): Những gia đình trong loại hình văn hóa này tiếp nhận và thực hành nghiêm túc niềm tin, vai trò từ các cộng đồng tôn giáo, ví dụ như Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo hoặc Hồi giáo. Mỗi thành viên suy nghĩ và hành xử dựa trên ý thức mạnh mẽ về sự đúng và sai, được xác định bởi hệ thống niềm tin tôn giáo của họ. Ví dụ: “Hạnh phúc và thành công của mỗi cá nhân không quan trọng bằng việc phản ánh mục đích của Đức Chúa Trời” là quan điểm ảnh hưởng lớn tới gia đình Cơ Đốc giáo. Hay trong một gia đình Ả Rập truyền thống, con cháu khi đưa ra mọi quyết định lớn của đời người như học tập, kết hôn, lập nghiệp... đều phải hỏi ý kiến của ông bà, vì trong kinh Koran dạy rằng, bậc cao niên là thế hệ được quý trọng.

Văn hóa gia đình tiến bộ gắn kết (Engaged Progressive Family Culture): Loại hình văn hóa gia đình này chú trọng đề cập đến trách nhiệm và tự do cá nhân. Các thành viên hành xử theo “Quy tắc Vàng” (The Golden Rule) và những gì được cho là phù hợp với mỗi người, đã được đặt ra trong gia đình. Những đứa trẻ thuộc loại hình văn hóa gia đình này thường có nhiều tự do khi ở lứa tuổi nhỏ hơn so với những đứa trẻ khác, vì các giá trị cá nhân được tôn trọng và các thành viên mong đợi sự trung thực lẫn nhau. Đây là loại hình văn hóa gia đình ít chịu ảnh hưởng của tôn giáo nhất trong cả bốn loại hình.

Văn hóa gia đình tách biệt (Detached Family Culture): Các gia đình thuộc loại hình này là những gia đình thiếu liên kết, họ quan niệm không nên dành thời gian để chia sẻ với nhau vì sợ rằng những điều tiêu cực từ các thành viên khác trong gia đình sẽ ảnh hưởng đến họ và ngược lại. Việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên dựa vào niềm tin mang tính phó mặc: “Điều gì đến sẽ đến”. Các gia đình có thu nhập thấp thường thuộc nhóm này hơn. Những đứa trẻ lớn lên trong gia đình tách biệt thường thiếu kỹ năng xác lập mối quan hệ, thiếu sự đồng cảm và có cái tôi dễ bị tổn thương hơn.

Văn hóa gia đình những người mơ mộng kiểu Mỹ (American Dreamer Family Culture): Đây là loại hình văn hóa gia đình phổ biến nhất ở Mỹ. Loại hình văn hóa gia đình này được đặc trưng bởi một thái độ tích cực đối với khả năng và cơ hội của các thành viên. Thành viên trong những gia đình này có mối quan hệ thân thiết với nhau, cha mẹ thường dồn hết tâm sức để chia sẻ, giúp đỡ con cái thành công trong cuộc sống và tránh xa càng nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ xã hội càng tốt.

Qua tìm hiểu về nghiên cứu của Đại học Virginia về bốn kiểu văn hóa gia đình điển hình ở Mỹ, có thể rút ra nhận xét: các kiểu gia đình tuy khác nhau về hình thái tổ chức, đặc điểm liên kết, biểu hiện cá thể... nhưng đều là hệ quả của việc tiếp nhận và chia sẻ văn hóa gia đình.

Nhà nghiên cứu tường thuật gia đình Robyn Fivush [14] nhận thấy rằng việc chia sẻ những câu chuyện trong gia đình góp phần giúp định hình ý thức của trẻ nhỏ - nhóm người đang hình thành ý thức về bản thân, cả với tư cách cá nhân lẫn tư cách là thành viên của một gia đình thống nhất. Những thanh thiếu niên có khả năng tái hiện sự chia sẻ của gia đình qua tường thuật cụ thể câu chuyện gia đình, thường có lòng tự trọng cao hơn và khả năng phục hồi (tổn thương về tinh thần) cao hơn. 

Có thể thấy, sự hiểu biết, chia sẻ câu chuyện gia đình nói riêng hay văn hóa gia đình nói chung đã tác động trực tiếp đến sự hình thành bản sắc của mỗi cá nhân, từ mỗi cá nhân này lại hình thành bản sắc văn hóa của gia đình và nhiều gia đình trong một dòng họ chia sẻ các giá trị văn hóa đặc sắc tương đương lại hình thành bản sắc văn hóa dòng tộc.

Tiểu kết và bàn luận mở rộng

Dù trong bất kỳ xã hội, bất kỳ loại hình văn hóa nào thì văn hóa gia đình vẫn luôn ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cảm nhận và hành động mang tính quy ước của mỗi cá nhân. Văn hóa gia đình như một chiếc la bàn thu nhỏ của cả một hệ thống đạo đức, niềm tin, giá trị và truyền thống của mỗi tập thể. Từ những quyết định lớn như kết hôn, lập nghiệp, an cư... đến những hành động nhỏ trong cuộc sống như lối nghĩ, cách ăn, nếp ngủ... đều có sự ảnh hưởng từ nền tảng văn hóa gia đình. Văn hóa gia đình chính là một phần quan trọng tạo nên “phần người” của mỗi con người và như vậy, văn hóa có vai trò to lớn trong việc hình thành bản sắc. Vậy liệu chúng ta có thể kết luận rằng những cá nhân chia sẻ cùng một nền văn hóa cuối cùng sẽ có những bản sắc giống nhau không? Giả định như vậy đã ngầm phủ nhận “sự hiện hữu” lẫn “tự nhận thức” của mỗi cá nhân.

Con người có bản chất năng động và thường xuyên tương tác với cộng đồng xung quanh. Trải nghiệm cá nhân cũng có một vai trò to lớn trong việc tạo nên bản sắc của chúng ta và mỗi mối quan hệ mà chúng ta xây dựng đã góp phần bổ sung hoặc thay đổi danh tính của chúng ta, lẫn của những cá nhân liên quan. Chúng ta tiết lộ chúng ta là ai thông qua mọi lựa chọn chúng ta đưa ra và với mọi lựa chọn, chúng ta định hình lại danh tính, bản sắc của mình. Văn hóa gia đình kiến tạo bản sắc cá nhân, dân tộc nhưng tự thân mỗi cá nhân, với tính chất năng động và khả năng tương tác của mình cũng có thể ít, nhiều góp phần tạo ra “bản sắc” riêng của mình. Tuy nhiên, bởi con người là động vật xã hội và văn hóa là chất keo kết dính các nhóm người với nhau nên từ cái nôi gia đình, từ những tương tác, tiếp nhận văn hóa đầu tiên nhất trong gia đình, bản sắc đã được tạo thành một cách tự nhiên, sâu sắc và thiêng liêng nhất.

 Có câu nói: “Thách thức lớn nhất mà con người gặp phải không phải là đi vào vũ trụ hay hiểu được các quy luật vật lý, mà là hiểu được cách hòa hợp với nhau và sống trong hòa bình”, để hòa hợp và hòa bình, không có gì khác ngoài việc mỗi cá nhân, mỗi dân tộc cần xác định và thấu hiểu căn tính, bản sắc của mình và của Người. Để góp phần đáp ứng nhu cầu có tính tự thân của con người trong việc xác định bản sắc và căn tính của mình, nhiều bộ môn khoa học đã ra đời, trong đó có “gia phả học”. 

—---------------------

[4] Nguyễn Văn Hiệu (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 27.

[5] Trần Ngọc Khánh (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 115.

[6] Lê Ngọc Văn (2011), Tạp chí gia đình và Giới, Số 3, trang 43-54.

[7] Trần Ngọc Khánh (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 114. 

[8] Lê Ngọc Văn (2012), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, trang 52.

[9] Nguyễn Văn Hiệu (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 27. 

[10] Nguyễn Văn Hiệu (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 29-30.

[11] Nguyễn Văn Hiệu (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 30. 

[12] Nguyễn Văn Hiệu (2015), Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam, trang 32.

[13] Thiết kế nghiên cứu này liên quan đến các quan sát lặp đi lặp lại của các biến số tương tự trong khoảng thời gian ngắn hoặc dài.

[14] Samuel Candler Dobbs, Giáo sư Tâm lý học và Giám đốc Viện Nghệ thuật Tự do tại Đại học Emory, nổi tiếng với nghiên cứu về câu chuyện kể giữa cha mẹ và con cái trong sự phát triển trí nhớ tự truyện.

Đối tượng nghiên cứu của gia phả học: 1 - Gia đình

9008 Lượt xem
other
Tặng đá Báo cáo
Chia sẻ

Ý kiến (0)