DJC

Đã đánh giá tài liệu

Cảm ơn bạn đã phản hồi

Giới thiệu Ngô Tộc Việt Nam

Tài liệu miễn phí

GIỚI THIỆU NGÔ TỘC VIỆT NAM

Trên đất nước ta có hàng trăm dòng họ đang cùng nhau sinh sống, tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam đoàn kết và vững mạnh. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cộng đồng các dòng họ người Việt đã sát cánh cùng nhau dựng xây, đấu tranh bảo vệ và phát triển Tổ quốc. Trong đó, dòng họ Ngô là một dòng tộc có nhiều công trạng với đất nước.

Họ Ngô hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam vào khoảng thế kỷ VIII, trải qua hàng ngàn năm phát triển, họ Ngô đã tạo dựng được vị thế vững chắc và uy tín trong cộng đồng bách gia trăm họ của người Việt. Tính đến thời điểm hiện tại, họ Ngô là dòng họ phổ biến thứ 12 ở Việt Nam, chiếm khoảng 1,7% dân số cả nước. Đây là dòng họ vô cùng nổi tiếng trong lịch sử, có nguồn gốc phát tích riêng và đã để lại những dấu ấn lớn lao trong các trang sử hào hùng của dân tộc với nhiều danh nhân có tiếng.

Từ thời xa xưa, khi nước ta bị giặc Nam Hán xâm lược, có người anh hùng dân tộc Ngô Quyền, bằng kế cắm cọc trên sông Bạch Đằng đã đánh tan mấy mươi vạn quân xâm lược, giúp dân tộc ta thoát khỏi ách nô lệ suốt 1.000 năm. Sau đó, Ngô Quyền đã lập ra vương triều Ngô, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của đất nước. Các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cũng giống cha của mình, đều là những vị mãnh tướng và là những vị vua nhân nghĩa.

Thế nhưng, không chỉ có Ngô Quyền và vương triều Ngô, lịch sử dân tộc đã chứng kiến rất nhiều người con họ Ngô là những vị danh tướng, chính trị gia tài giỏi. Thời nhà Lý có danh tướng Ngô Tuấn, tên thật của Thái úy Lý Thường Kiệt, một trong những trụ cột trong thời kỳ thịnh trị của vương triều này. Người họ Ngô cũng đóng vai trò là những bậc khai quốc công thần của rất nhiều triều đại trong sử Việt, đó là Ngô Tất An - vị tướng có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp “Loạn 12 sứ quân” ở thế kỷ X; Duyên Ý Dụ Vương Ngô Từ - ông ngoại Vua Lê Thánh Tông, công thần kiến lập nên nhà Lê Sơ; nhà Tây Sơn hùng mạnh nhờ có sự phò tá của những bậc anh tài như Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở…; hay nhà Nguyễn thống nhất được sơn hà là nhờ có sự phò tá đắc lực của Ngô Tùng Châu, người đã tử tiết để giữ thành Bình Định, giúp Nguyễn Ánh hoàn thành đại sự…

Trong tôn giáo, chúng ta có Thiền sư Ngô Chân Lưu, pháp danh là Khuông Việt, là vị Quốc sư của hai triều đại Đinh - Tiền Lê, người đầu tiên được phong là “Tăng thống” (danh xưng dùng để tôn vinh vị tăng sĩ lãnh đạo tinh thần Phật giáo của một quốc gia hoặc một giáo hội Phật giáo) trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Trong văn học, giáo dục, người họ Ngô cũng đóng góp rất nhiều tên tuổi lớn. Bộ Đại Việt sử ký toàn tư - bộ quốc sử chính thống và cổ nhất của Việt Nam là do nhà sử học Ngô Sĩ Liên chấp bút. Cách Ngô Sĩ Liên khoảng 1 thế kỷ có Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu, vị Trạng nguyên họ Ngô duy nhất trong lịch sử. Và nhắc tới họ Ngô thì không thể bỏ qua danh tiếng “Ngô gia văn phái” của dòng họ Ngô Thì nức tiếng văn chương ở đất Bắc Hà trong thế kỷ XVII - XX với 15 tác gia xuất sắc của 09 thế hệ như Ngô Thì Ức, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Du…

Họ Ngô được mệnh danh là dòng họ anh hùng, trung dũng với rất nhiều tấm gương đã xả thân vì đất nước. Trong khởi nghĩa chống Pháp có anh hùng Ngô Quang Bích - người lãnh đạo phong trào Cần Vương ở vùng núi rừng Tây Bắc, hay chí sĩ yêu nước Ngô Đức Kế - một nhân vật quan trọng của phong trào yêu nước Duy Tân đầu thế kỷ XX. Đến thời đại Hồ Chí Minh, dòng họ Ngô có Ngô Gia Tự là một đảng viên kiên trung, trọn đời vì sự nghiệp cách mạng và anh hùng Ngô Gia Khảm - người được phong Anh hùng Lao động đầu tiên của Việt Nam, bên cạnh đó là các vị anh hùng khác như Ngô Mây, Ngô Quang Tảo, Ngô Chí Quốc… đều đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cứu quốc.

Không chỉ có vậy, họ Ngô còn nổi tiếng với nhiều con người tài hoa. Ít ai biết được rằng Lễ đài Độc lập Ba Đình năm 1945 được thiết kế bởi một người họ Ngô, đó là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh. Người Việt Nam đầu tiên giành Huy chương Fields danh giá là con cháu dòng họ Ngô, đó là Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu. Nhà thơ Xuân Diệu với những áng thơ văn được mọi người gọi là “Ông hoàng thơ tình” cũng là người họ Ngô, cùng với đó là những tên tuổi lớn trên văn đàn như nhà văn hoá Ngô Tất Tố, nhà văn Trúc Khê (tên thật là Ngô Văn Triện)... 

Trên đây là số ít trong những sự thật thú vị và đáng tự hào về dòng họ Ngô - dòng họ anh hùng của đất nước Việt Nam.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌ NGÔ VIỆT NAM

Họ Ngô xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ VIII. Phả hệ họ Ngô Việt Nam do Hán Quốc công Ngô Lan biên soạn từ năm Đinh Dậu 1477 xác định cụ Ngô Nhật Đại là thủy tổ của dòng họ Ngô Việt Nam. Cụ Ngô Nhật Đại là hào trưởng châu Phúc Lộc tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, cụ di cư về Châu Ái, lấy nghề nông làm kế sinh nhai. Cụ Ngô Nhật Đại sinh được một người con trai là cụ Ngô Nhật Dụ. Cụ Ngô Nhật Dụ sinh ra Ngô Đình Hạo, Ngô Đình Hạo sinh ra Ngô Đình Thực, các đời nối nhau làm hào trưởng. Cụ Ngô Đình Thực sau đó sinh ra cụ Ngô Mân. Lớn lên, cụ Ngô Mân làm Mục trưởng Đường Lâm ở đất Phong Châu, lấy vợ là bà Phùng Thị Tịnh Phong sinh ra Ngô Quyền và Ngô Tịnh.

Ngô Quyền lớn lên quay trở lại Ái Châu, được Dương Đình Nghệ thu nạp và gả con gái là Dương thị làm vợ. Ngô Quyền sau đó sinh được hai người con trai là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn. Năm 939, sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương, lập ra nhà Ngô. Ông trị vì được 5 năm, đến năm 944 thì mất, hưởng thọ 46 tuổi. Ngai vàng được truyền lại cho hai người con trai là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cùng trông coi việc nước. Nhà Ngô truyền được ba đời, vị Vua Ngô cuối cùng là Ngô Xương Xí. Năm 965, nhà Ngô mất, trị vì được tổng cộng 26 năm.

Sau khi nhà Ngô suy vong, đất nước rơi vào loạn lạc, biết rằng không thể khôi phục lại vương triều của dòng họ và cần một triều đại mới lên thay thế nên các hoàng tộc nhà Ngô như Ngô Nhật Khánh, Ngô Tất An đã phò tá Đinh Bộ Lĩnh, dẹp loạn các sứ quân, kiến lập nên nhà Đinh.

Trong hoàng tộc họ Ngô còn có một người tên là Ngô Ích Vệ, con thứ của Ngô Xương Xí. Sau khi nhà Ngô mất, Ngô Xương Xí đã vào Châu Hoan lánh nạn, đổi tên thành Ngô An Ngữ. Khi nhà Lý thành lập, Ngô An Ngữ ra Thăng Long và được nhận một chức quan võ nhỏ. Ngô An Ngữ có một người con trai tên là Ngô Tuấn, thông minh tài giỏi, khôi ngô tuấn tú. Ngô Tuấn có nhiều công lao giúp Vua Lý đánh Chiêm Thành nên được ban cho quốc tính họ Lý và đổi tên thành Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt chính là vị anh hùng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Tống 1075 - 1076 và là một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý.

Đến thế kỷ XV, dòng họ Ngô có sự phát triển mạnh mẽ. Ngô Từ vốn là một môn khách trong nhà Lê Lợi ở đất Lam Sơn. Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Ngô Từ đã đi theo và lập được nhiều công trạng. Khi Lê Lợi lên ngôi vua đã phong chức tước và ban quốc tính họ Lê cho Ngô Từ. Ngô Từ có một người con gái là Ngô Thị Ngọc Dao được Vua Lê Thái Tông lập làm cung phi, bà đã hạ sinh cho nhà vua Hoàng tử Lê Tư Thành, chính là Vua Lê Thánh Tông sau này. Dòng dõi của Ngô Từ còn có 11 người con trai đều được phong chức tước và tỏa đi khắp nơi. Ngoài Ngô Từ thì trong triều đình nhà Lê còn có các danh thần họ Ngô khác như Ngô Sĩ Liên, Ngô Hoán,...

Đến khi nhà Mạc được thành lập, nhiều nhân sĩ họ Ngô đã ra giúp nhà Mạc, trong đó có Ngô Bá Di, Ngô Quân Hiên, Ngô Miễn Thiệu… Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ dòng họ Ngô có nhiều biến động bởi thời cuộc. Khi ấy, ở phía Nam, một thuộc tướng nhà Lê là Nguyễn Kim đã cho tìm con cháu họ Lê lên làm vua, lập ra nhà Lê trung hưng để đối phó với nhà Mạc ở phía Bắc mà sử cũ gọi đây là thời kỳ Nam - Bắc triều. Nam triều của nhà Lê trung hưng cũng nhận được sự ủng hộ của không ít những người họ Ngô vì thế mà ở hai đầu chiến tuyến đều có những người là con cháu họ Ngô. Cuộc chiến giữa hai tập đoàn phong kiến này đã gây nên những tổn thất không nhỏ cho huyết thống họ Ngô. Những người con trong các chi họ của họ Ngô lần lượt phải thay tên đổi họ, sống mai danh ẩn tích để tránh sự truy sát của hai bên. Theo đó, các chi họ Ngô đã phải đổi tên sang họ khác như Phạm, Trần, Nguyễn, Lê, Đỗ, Phan, Hoàng, Hoa, Văn, Vũ Văn. Sự kiện này kéo dài đến khi nhà Lê tiêu diệt được nhà Mạc, khôi phục lại vương triều Lê thì những người họ Ngô mới được quay trở về họ chính thống của mình.

Hết thời kỳ Nam - Bắc triều, nước ta tiếp tục cảnh bị chia cắt bởi cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước bị chia đôi thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài. Khi Chúa Nguyễn Hoàng thiên cư về phía Nam lập nghiệp, đã có rất nhiều người họ Ngô đi theo Chúa để khai khẩn đất hoang. Họ sống tập trung tại Huế và những vùng lân cận. Khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ, nhiều người họ Ngô cùng với những dòng tộc khác không may bị sa cơ đã chạy vào Nam, họ đến vùng Quảng Nam, Bình Định, thậm chí là Châu Đốc, một bộ phận khác bỏ vùng đồng bằng sông Hồng, chạy lên miền ngược, giáp biên giới với Trung Quốc để định cư. Vì vậy mà họ Ngô có sự phân bố rộng lớn khắp từ Bắc đến Nam. Với những biến động to lớn của thời đại nên tộc phả của nhiều chi họ đã bị thất lạc, mất mát, rất khó để khôi phục.

Đến khi nhà Tây Sơn thành lập rồi sau đó là nhà Nguyễn thống nhất đất nước, hòa bình được khôi phục thì những người họ Ngô mới có điều kiện để chấn hưng lại sự vẻ vang vốn có của dòng họ. Vương triều Tây Sơn có sự phò tá đắc lực của hai danh nhân họ Ngô thuộc hai ban văn võ là Ngô Thì Nhậm và Ngô Văn Sở. Nếu như Ngô Thì Nhậm giúp Vua Quang Trung ổn định chính trị đất nước, thiết lập nền bang giao với ngoại bang thì Ngô Văn Sở là một danh tướng có nhiều chiến công trên chiến trường, đặc biệt trong chiến thắng quân Thanh vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789. Dòng dõi của hai danh thần này cũng sinh sôi mạnh mẽ và kéo dài sang các thời kỳ sau.

Trong khi đó, nhà Nguyễn gây dựng nên cơ đồ và lần đầu tiên cai trị một nước Việt Nam hoàn chỉnh cũng có sự giúp đỡ không nhỏ của các tướng tài, các danh sĩ như Ngô Tùng Châu, Ngô Nhân Tịnh.

Sang thế kỷ XX, tình hình Việt Nam có nhiều chuyển biến to lớn. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đã dẫn dắt, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập và sau đó là kháng chiến chống Mỹ để thống nhất nước nhà. Trong suốt một thế kỷ đấu tranh không ngừng nghỉ ấy, những người con của họ Ngô ở khắp mọi miền Tổ quốc đều đã đứng lên, góp công vào sự nghiệp cứu quốc. Ngô Gia Tự là người cộng sản đầu tiên của dòng họ Ngô, ông đã thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam và trở thành Bí thư xứ ủy lâm thời của Đảng bộ Nam Kỳ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có rất nhiều người con của dòng họ Ngô đã lập chiến công, thậm chí là đã ngã xuống để giành lấy nền hòa bình cho đất nước. Đó là những người anh hùng Ngô Gia Khảm, Ngô Mây, Ngô Quang Tảo, Ngô Chí Quốc, Ngô Văn Cấn, Ngô Xuân Quảng…

Ngày nay, khi đất nước được thống nhất và hòa bình, những người con của dòng họ Ngô vẫn tiếp tục phát huy truyền thống huy hoàng của tổ tiên để góp công xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp. Nhiều người con ưu tú của dòng họ Ngô đã trở thành những Giáo sư, nhà giáo nổi tiếng đưa tên tuổi Việt Nam vươn tầm thế giới, trong đó, nổi bật nhất là Ngô Bảo Châu - vị Giáo sư Toán học đầu tiên của Việt Nam giành Huy chương Fields danh giá.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử với nhiều biến động của thời đại, của gia tộc mà tộc phả của dòng họ Ngô đã bị mai một không ít, không khỏi có những cành cụt. Với tinh thần “Nước có nguồn, cây có gốc, người có tổ tông”, những người con của họ Ngô đang cố gắng tìm lại những dấu tích xưa kia của tổ tiên để tưởng nhớ và giáo dục con cháu về những chiến công mà các cụ năm xưa đã tạo dựng. Đồng thời, đó là một sợi dây liên kết vững bền để tăng thêm tình đoàn kết trong dòng họ, trong cộng đồng những người mang dòng máu họ Ngô.

Dòng họ Ngô đã có những cống hiến lớn lao cho Tổ quốc, cho đất nước và những người con của họ Ngô từ đời này qua đời khác đều một lòng vì nước vì nhà, tiếp tục phát huy bản lĩnh, gìn giữ được truyền thống tốt đẹp của dòng họ, đó cũng là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

VƯƠNG TRIỀU NGÔ - VƯƠNG TRIỀU TRUNG HƯNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Năm 179 TCN, nước Âu Lạc bị diệt vong, từ đây, nhân dân ta đã phải trải qua một thời kỳ đen tối bậc nhất trong lịch sử dân tộc, đó là thời kỳ “Nghìn năm Bắc thuộc”. Trong suốt thời kỳ ấy, nhân dân ta đã không ngừng nổi dậy đấu tranh để đòi lại quyền tự chủ. Những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Phùng Hưng nổ ra nhưng đều không giành được thắng lợi cuối cùng. Phải mãi đến năm 905, một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã nhân lúc nhà Đường suy yếu mà chiếm giữ thủ phủ Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt. Họ Khúc truyền được ba đời thì đến năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược và đánh bại. Một tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ, người Ái Châu (Thanh Hóa) không thần phục Nam Hán nên đã tập hợp lực lượng ở quê nhà để chống lại. Trong hàng ngũ của Dương Đình Nghệ có một tráng sĩ rất đặc biệt, người đó vừa là bộ tướng, đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ và sở hữu tài thao lược hơn người. Đó là Ngô Quyền.

Ngô Quyền sinh ngày 17 tháng 04 năm Đinh Tỵ 898 trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm (huyện Sơn Tây, Hà Nội ngày nay). Cha ông là Ngô Mân làm chức Châu mục Đường Lâm. Tương truyền, mẹ Ngô Quyền nằm mơ thấy một con đại bàng trắng từ trên cây lao vút xuống người, bà giật mình tỉnh giấc, thụ thai mà sinh ra Ngô Quyền. Khi ông sinh ra, trong nhà có đầy ánh sáng lạ. Ngô Quyền có tướng mạo khác thường, sau lưng có nốt ruồi to, trên tay có nhiều nốt ruồi nhỏ. Trán cao, mắt sáng, miệng rộng, dáng đi bệ vệ, tiếng nói như chuông. Ông Ngô Mân thấy vậy đặt tên là Quyền. Có một thầy tướng từng nói với Ngô Mân rằng: “Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có cốt cách hơn người, có phước lớn lắm, ắt ngày sau sẽ là bậc anh hào giúp dân cứu nước”.

Lớn lên, Ngô Quyền trở thành một thanh niên khôi ngô tuấn tú, có trí dũng, sức khỏe phi thường có thể nhấc cả vạc đồng. Ông thường rủ đám trai làng tập võ. Dù là người có võ nghệ cao cường, song tính ông khoan hòa nên ai cũng mến mộ. Đặc biệt, ông thường ra tay giúp đỡ người yếu, chống lại kẻ ác, tiếng tăm của ông được nhiều người biết tới. Ngô Quyền rất thích săn bắn, ông thường dẫn đầu đám trai làng đi săn và mang nhiều thịt thú rừng về chia cho dân làng. Ông cũng kết giao với anh hùng hào kiệt bốn phương nhằm mưu việc đại nghĩa.

Nghe tin ở Ái Châu có vị Hào trưởng Dương Đình Nghệ là người nhân từ, khoan dung và có chí lớn nên Ngô Quyền đã tìm vào phò tá. Dương Đình Nghệ rất coi trọng Ngô Quyền nên đã gả con gái là Dương thị cho ông. Năm 930, họ Khúc mất, quân Nam Hán tràn vào chiếm thành Đại La, toan đặt ách cai trị lên nước ta. Dương Đình Nghệ liền tập hợp binh sĩ, kéo quân ra Bắc, đánh chiếm thành Đại La rồi tự xưng là Tiết độ sứ. Vì có công lao trong việc đánh dẹp giặc Hán nên Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ phong là Thứ sử Ái Châu.

Dương Đình Nghệ làm Tiết độ sứ được sáu năm thì bị một nha tướng là Kiều Công Tiễn giết để cướp ngôi. Hay tin Kiều Công Tiễn làm phản, giết hại cha vợ, từ Ái Châu, Ngô Quyền tập hợp lực lượng tiến quân ra Bắc để trừng trị Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn sợ hãi, liền sai người sang cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Nhiễm nhân cơ hội đó bèn quyết định đánh Tĩnh hải quân lần thứ hai. Ông ta cho con là Thái tử Hoằng Tháo đưa thủy quân đi trước, tự mình dẫn bộ binh đi tiếp ứng.

Ngô Quyền nhanh chóng hạ thành Đại La, bắt giết Kiều Công Tiễn. Được tin quân Nam Hán theo lời cầu cứu của Kiều Công Tiễn đang tràn sang nước ta, ông liền họp các tướng để bàn kế chống giặc. Ngô Quyền nói: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Kiều Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng thì đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn, vạt nhọn đầu, bịt sắt, đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc, thì sau đó ta sẽ dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào thoát”.

Cuối năm 938, Hoằng Tháo chỉ huy đạo thủy quân kéo vào nước ta, còn Vua Nam Hán đóng quân ở Hải Môn tiếp ứng cho Hoằng Tháo. Khi giặc tới gặp nước triều đang lên, ngập hết bãi cọc. Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả thua chạy, dụ địch đi qua bãi cọc vào sông Bạch Đằng. Hoằng Tháo thấy quân ta chạy thì đắc thắng, liền thúc thuyền đuổi theo. Đợi khi nước thủy triều rút xuống, Ngô Quyền hạ lệnh cho toàn quân tấn công quyết liệt. Quân ta dùng thuyền chiến nhỏ nhẹ, cơ động đánh mạnh vào đội hình quân Nam Hán, đồng thời từ hai bên bờ sông cung tên của bộ binh bắn ra dữ dội vào đoàn thuyền giặc. Thủy quân giặc hốt hoảng quay đầu chạy, đến cửa sông thì lúc này bãi cọc đã lộ ra. Thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc kẹt và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Quân giặc phần bị giết, phần chết đuối phần còn lại phải đầu hàng hoặc bị quân ta bắt sống, Lưu Hoằng Tháo phải bỏ mạng. Cuộc chiến đấu diễn ra và kết thúc chỉ trong vòng một con nước thủy triều. Toàn bộ đạo quân xâm lược hung hăng và ngạo mạn với đoàn thuyền chiến lớn đã bị tiêu diệt ở ngay vùng cửa biển Bạch Đằng khi chưa kịp đặt chân lên đất liền. Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới cũng không kịp trở tay đối phó, lại nghe tin Hoằng Tháo tử trận nên vô cùng kinh hoàng, đành thương khóc rồi thu thập tàn quân mà rút lui.

Chiến thắng ở sông Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử Việt Nam. Nó đã chính thức chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ cho nước Việt. Đây là một chiến thắng vang dội của dân tộc Việt Nam trên con đường đấu tranh lâu dài và gian khổ chống xâm lược phương Bắc, chống đồng hóa, giành lại độc lập dân tộc. Sau ngày chiến thắng, Ngô Quyền bắt tay vào việc xây dựng nền móng của một quốc gia độc lập tự chủ. Đầu năm 939, Ngô Quyền xưng Vương, định đô ở Cổ Loa, đặt quan chế, định triều nghi phục sắc cho các quan văn võ, cả nước yên hưởng thái bình.

Nhà Ngô ra đời đã khẳng định sự độc lập tự chủ hoàn toàn của người Việt trước người phương Bắc. Vương triều Ngô đã đặt nền móng cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ thống nhất đất nước muôn đời về sau của dân tộc Việt Nam, và là cơ sở vững chắc cho các triều đại kế tiếp bước vào thời kỳ quân chủ chuyên chế. Với công lao to lớn đó, có thể nói rằng vương triều Ngô là vương triều Trung hưng của người Việt và Ngô Quyền chính là “Ông tổ Trung hưng của người Việt Nam”.

Tổng quan về dòng họ Ngô Việt Nam

226 Lượt xem
other
Tặng đá Báo cáo
Chia sẻ

Ý kiến (0)