để tặng cho tác giả tài liệu này
Đã đánh giá tài liệu
Cảm ơn bạn đã phản hồi
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà cung cấp: Nhiều nguồn
Tất cả con cháu Lý Tộc & cộng đồng
Trong 216 năm với chín đời vua trị vì, họ Lý đã góp phần tạo nên giai đoạn thịnh trị bậc nhất của nền quân chủ Việt Nam. Sử sách ghi nhận những sự thật vô cùng đáng tự hào của dòng họ Lý: Vị Hoàng đế đầu tiên của nước Việt là người họ Lý - Vua Lý Nam Đế; Bộ luật đầu tiên trong lịch sử do Vua Lý Thái Tông ban hành; kỳ thi đầu tiên của nước Việt do Vua Lý Nhân Tông mở; Trường đại học đầu tiên của Việt Nam (Quốc Tử Giám) được xây dựng bởi Vua Lý Nhân Tông; người Việt đầu tiên đưa quân sang đánh Trung Quốc là Lý Thường Kiệt; người sáng lập Kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội ngày nay là Vua Lý Thái Tổ... Trong dòng chảy của lịch sử, biết bao người con họ Lý đã có công mở mang bờ cõi, làm rạng danh đất nước Việt Nam.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DÒNG HỌ LÝ VIỆT NAM
Việt Nam là quốc gia có đông đảo các dòng họ, tạo nên một cộng đồng đoàn kết, góp sức chung tay viết nên những trang sử vẻ vang trong hơn bốn ngàn năm lịch sử. Trong đó, họ Lý là một trong những dòng họ nổi tiếng với lịch sử phát triển rất hào hùng.
Lịch sử nước nhà đã từng chứng kiến dòng họ Lý lên nắm quyền cai trị đất nước trong 216 năm với chín đời vua trị vì, góp phần tạo nên giai đoạn thịnh trị bậc nhất của nền quân chủ Việt Nam.
Lý Thái Tổ là vị vua khai mở triều Lý, và cũng là người khai sinh ra kinh thành Thăng Long, khởi đầu cho nền văn hiến nghìn năm của thủ đô Hà Nội ngày nay. Cháu của ông, Vua Lý Thánh Tông, vị Hoàng đế thứ ba của triều Lý, là người đã đặt tên nước Đại Việt, cái tên được sử dụng nhiều nhất trong lịch sử và trở thành niềm tự hào vang bóng ngàn năm của người Việt Nam.
Nhưng dòng họ Lý đâu chỉ có một Vương triều Lý, mà xa hơn nữa, những người con của dòng họ này đã ghi tên mình trong công cuộc dựng nước và bảo vệ Tổ quốc.
Từ thời khai thiên lập địa, một người họ Lý là Lý Ông Trọng đã nổi danh là một danh tướng lẫy lừng của hai nhà nước nối tiếp nhau là Văn Lang và Âu Lạc. Không những thế, danh tiếng của ông còn vang sang Đại Tần đế quốc, khiến cho một “Thiên cổ nhất đế” Tần Thủy Hoàng phải kính nể, trọng vọng.
Trong giai đoạn “nghìn năm Bắc thuộc” ở đất nước ta, đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nhưng thắng lợi vang dội nhất thuộc về cuộc khởi nghĩa do một người họ Lý đứng đầu. Đó là cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, đánh đổ ách đô hộ của nhà Lương, lập ra nước Vạn Xuân. Đây cũng chính là triều Tiền Lý mà sử sách vẫn hay gọi để phân biệt với triều Lý ở thế kỷ XI - XIII.
Trong dòng chảy của lịch sử, biết bao người con họ Lý đã có công mở mang bờ cõi, làm rạng danh đất nước Việt Nam.
Về quân sự chúng ta có Thái úy Lý Thường Kiệt, người đã dẫn quân Đại Việt sang công phá ba thành Ung, Khâm, Liêm của nhà Tống bên Trung Quốc, uy chấn sơn hà; danh tướng Lý Kế Nguyên - anh hùng trong kháng chiến chống quân Tống. Chính trị gia thời xưa có Thái sư Lý Đạo Thành, Vua Lý Thái Tông, Vua Lý Nhân Tông là những người đã góp phần tạo nên thời kỳ “Bách niên thịnh thế”, tức là 100 năm thịnh vượng của đất nước. Cùng với đó là rất nhiều tên tuổi mang họ Lý khác ở nhiều lĩnh vực trong nhiều giai đoạn lịch sử.
Do những biến cố trong lịch sử, số lượng người họ Lý dần ít đi và đến ngày nay, con cháu của họ Lý chiếm 0,5% dân số cả nước, là dòng họ phổ biến thứ 14 tại Việt Nam. Mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ dân số khiêm tốn, nhưng những người họ Lý có quyền tự hào về lịch sử và truyền thống vẻ vang của dòng họ mình, khi mà trong danh sách “14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam” (do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Việt Nam công bố ngày 21 tháng 06 năm 2013), có đến ba danh nhân mang họ Lý, nhiều nhất danh sách. Đó là: Vua Lý Nam Đế, Vua Lý Thái Tổ và Thái úy Lý Thường Kiệt.
NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ LÝ
Họ Lý là một trong số những dòng họ có bề dày lịch sử lâu đời bậc nhất ở Việt Nam. Một trong những người họ Lý đầu tiên ở Việt Nam được lịch sử nhắc đến là Lý Ông Trọng hay còn có tên gọi khác là Lý Thân, người làng Chèm, nay thuộc địa bàn quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ông là một danh tướng thời Hùng Vương và thời Thục Phán An Dương Vương. Danh tiếng của ông còn vang sang tận nhà Tần ở Trung Quốc, vua nước Tần là Tần Thủy Hoàng đã bắt Vua An Dương Vương phải cống nạp ông sang Trung Quốc. Tại nước Tần, Lý Ông Trọng được phong làm tướng, giúp Vua Tần chống lại Hung Nô, bảo vệ biên giới. Ngày nay, ở Trung Quốc và Việt Nam đều có đền thờ ông.
Đến thế kỷ thứ II, ở đất Giao Châu (tên gọi của nước ta thời kỳ Bắc thuộc) có một cộng đồng dòng họ Lý làm nghề thủ công, tên là “Lý thị kính tác”. Theo các bằng chứng khảo cổ và thư tịch cổ ghi chép lại thì những người họ Lý ở đây làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng và nổi bật nhất là đúc gương. Trên một hiện vật khảo cổ bằng đồng được lưu giữ tại Quảng Đông (Trung Quốc) có ghi rằng: “Nguyên Sơ ngũ niên thất nguyệt trung Tây Vu Lý Văn Sơn trị xạ trước (chú) hữu”. Tạm dịch là “Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ, Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng”. Vào thế kỷ II, huyện Tây Vu là một huyện do tướng Mã Viện của nhà Hán lập nên, nay thuộc địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, còn năm thứ năm đời Nguyên Sơ chính là niên hiệu của Vua Hán An Đế, nhà Hán, tức khoảng năm 116. Hoặc trên một chiếc vò sành đời Hán được trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử có khắc dòng chữ: “Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Nghĩa là: “Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa”. Đó là vào năm 149, niên hiệu Kiến Hòa của vua Hán Hoàn Đế.
Những chứng tích lịch sử đó đã xác nhận sự hiện diện của một dòng họ Lý có tiềm lực về kinh tế, chính trị trong buổi đầu thời kỳ Bắc thuộc ở Việt Nam.
Cũng trong thời kỳ Bắc thuộc, cuộc đấu tranh của dân tộc Việt nhằm giành lại quyền tự chủ đã có sự hiện diện của một vị thủ lĩnh họ Lý. Đó là Lý Bí hay Lý Bôn. Lý Bí quê ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay, vốn là một hào trưởng có tài văn võ. Vì không cam chịu ách áp bức bóc lột của chính quyền đô hộ nhà Lương, Lý Bí đã phất cờ khởi nghĩa và được đông đảo nhân dân ủng hộ. Cuộc khởi nghĩa của ông giành thắng lợi, Lý Bí lên ngôi, lấy hiệu là Vua Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Lịch sử gọi nhà nước của Vua Lý Nam Đế là nhà Tiền Lý và ông chính là vị vua đầu tiên mang họ Lý, đồng thời cũng là vị Hoàng đế đầu tiên trong sử Việt.
Nước Vạn Xuân do Vua Lý Nam Đế thành lập tồn tại gần 60 năm thì bị nhà Tùy thôn tính. Tiếp nối nhà Tiền Lý, đến năm 1009, một người họ Lý khác đã giành lấy giang sơn Việt Nam về cho dòng họ của mình. Đó là Lý Công Uẩn.
Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp, nay thuộc thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Lý Công Uẩn từng giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ trong triều đình nhà Tiền Lê. Đến khi nhà Tiền Lê suy yếu, với tài năng và đức độ của mình, triều thần đã suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Thiên tử, tức Vua Lý Thái Tổ, mở ra cơ nghiệp cho nhà Lý. Sử sách mô tả Vua Lý Thái Tổ là một vị minh quân, có nhiều quyết sách sáng suốt không chỉ cho cơ nghiệp của họ Lý mà còn có ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử dân tộc. Ông là người đã chọn Thăng Long là đất định đô, từ đó mở ra một thời kỳ phát triển thịnh vượng mới cho đất nước và đưa nước ta trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực. Các con cháu của ông là các vị Vua Lý Thái Tông, Vua Lý Thánh Tông và Vua Lý Nhân Tông cũng kế tục xuất sắc, tạo nên một thời kỳ vàng son “Bách niên thịnh thế”, nghĩa là một trăm năm thịnh vượng trứ danh trong sử Việt,
Vương triều Lý từ Vua Lý Thái Tổ cho đến vị vua thứ chín là Vua Lý Chiêu Hoàng trị vì nước ta trong 216 năm. Trong suốt hơn hai thế kỷ đó, triều Lý đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Đặc biệt nhất là chiến công đại phá quân Tống bên dòng Như Nguyệt năm 1077, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước.
Đến những năm cuối của Vương triều Lý, thiên hạ đại loạn, Vua Lý không còn giữ được thực quyền mà quyền hành rơi vào tay ngoại thích. Đến năm 1225, vị vua cuối cùng của nhà Lý là Vua Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, kết thúc vương triều của gia tộc và bắt đầu thời kỳ suy tàn của dòng họ này.
Khi họ Trần lên nắm quyền, nhà Trần đã thực hiện chính sách kiêng kỵ tên húy của những người trong hoàng tộc, trong đó có việc kiêng tên húy của Thủy tổ nhà Trần là Trần Lý. Theo đó, những người mang họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn hoặc họ khác để tránh phạm húy. Vì thế mà họ Lý dần mất đi vị thế và người ngày càng ít đi. Những người mang họ Lý vì để bảo vệ cuộc sống yên ổn, tránh phiền toái nên đã chấp nhận thay đổi gốc gác của mình, hòa chung với các dòng họ khác trên lãnh thổ Đại Việt lúc đó. Một số khác không chấp nhận điều đó nên đã có động thái phản kháng. Trong đó có Hoàng tử Lý Long Tường, người con trai thứ bảy của Vua Lý Cao Tông. Để bảo toàn tính mạng và lo việc thờ cúng tổ tiên, Hoàng tử Lý Long Tường đã bí mật về Bắc Ninh, vái lạy tạ biệt lăng miếu Đình Bảng (nay là Đền Đô), tới Thái miếu thu gom các bài vị rồi cùng gia quyến hơn 6.000 người ra cửa biển Thần Phù vượt biển đi nơi khác. Sau nhiều ngày tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền của Hoàng tử họ Lý cập bến ở nước Cao Ly, thuộc bán đảo Triều Tiên ngày nay. Tương truyền rằng trước đó Vua Cao Tông nhà Cao Ly nằm mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lên, vì vậy ông lệnh cho chính quyền địa phương tiếp đón ân cần, và đồng ý cho Lý Long Tường ở lại dung thân.
Hoàng tử Lý Long Tường đã có công giúp Vua Cao Ly đánh bại cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ nên được nhà vua cấp đất ban thưởng, phong làm Hoa Sơn Tướng quân. Hậu duệ của Hoàng tử Lý Long Tường sau đó đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một dòng họ lớn mạnh ở Hàn Quốc ngày nay. Đó chính là dòng họ Lý Hoa Sơn, theo tiếng Hàn là họ Lee.
Sau biến cố lớn đó, dòng họ Lý tưởng như đã bị tuyệt diệt, nhưng vẫn có những người con họ Lý can đảm giữ nguyên họ tộc của mình và sau này đã tạo nên tiếng vang trong sử sách.
Thời nhà Trần có vị Trạng nguyên Lý Đạo Tái, người huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, thi đỗ Trạng nguyên khi mới 20 tuổi, sau đó trở thành vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với pháp danh Huyền Quang.
Đến thế kỷ XV có danh tướng Lý Triện, anh hùng trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh, công thần khai quốc của triều Lê sơ. Sau đó còn có danh tướng Lý Tài, Lý Văn Bưu, Lý Văn Phức đều là những trụ cột của triều Tây Sơn và nhà Nguyễn.
Có thể thấy rằng, dù gặp nhiều biến cố, trải qua không ít thăng trầm, nhưng họ Lý đã có nhiều công lao to lớn với đất nước. Dòng họ Lý xứng đáng được tôn trọng. Trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ mới này rất cần những công dân ưu tú họ Lý tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của tổ tiên để đưa đất nước vươn tầm, sánh ngang với các cường quốc năm châu.
VƯƠNG TRIỀU LÝ - TỰ HÀO 216 NĂM LỪNG LẪY CHIẾN CÔNG
Vương triều Lý là một vương triều hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, có công làm cho nước Việt ta trở thành một nước cường thịnh ở thế kỷ XI - XII. Trong suốt hơn hai thế kỷ tồn tại, Vương triều Lý đã có nhiều cống hiến lớn lao đối với đất nước, tạo nên vị thế quan trọng trong lịch sử dân tộc. Đó là:
Dời đô và kiến lập kinh thành Thăng Long
Mở đầu kỷ nguyên văn minh Đại Việt
Bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Đẩy mạnh công cuộc xây dựng, mở mang bờ cõi
Vương triều Lý tồn tại 216 năm, từ năm 1009 đến năm 1225 với chín đời vua trị vì.
Vua Lý Thái Tổ (1009 - 1028): Vua Lý Thái Tổ tên thật là Lý Công Uẩn, người châu Cổ Pháp, nay thuộc thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông lên ngôi Hoàng đế ngày 02 tháng 11 năm 1009 tại kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình. Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ dời kinh đô Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long. Bản “Chiếu dời đô” và công cuộc định đô Thăng Long của Vua Lý Thái Tổ là cột mốc lớn mở đầu lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đánh dấu bước ngoặt lớn của lịch sử đất nước.
Trong công cuộc trị nước bình thiên hạ, Vua Lý Thái Tổ đã làm rạng danh nước Việt, viết nên những trang sử oanh liệt thời kỳ dựng nước và giữ nước. Sau 19 năm trị vì, năm 1028, Vua Lý Thái Tổ băng hà ở điện Trường Xuân, thọ 55 tuổi.
Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054): Thái tử Lý Phật Mã sinh năm 1000 tại phủ Trường Yên (Hoa Lư, Ninh Bình), lên ngôi năm 1028, hiệu là Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông đã có nhiều cống hiến được sử sách ghi nhận:
Năm 1042, ban hành bộ luật “Hình thư” là bộ luật thành văn đầu tiên của nước nhà - một bước tiến lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền.
Năm 1049, dựng chùa Diên Hựu, nay là chùa Một Cột với kiến trúc “Hoa sen nghìn cánh nở trên cột đá”, in dấu ấn ngàn năm ở kinh thành Thăng Long.
Đặc biệt chú trọng đến việc mở mang bờ cõi, xây dựng bảo vệ đất nước, đoàn kết với các cộng đồng dân tộc thiểu số.
Hoạch định những chính sách tiến bộ để phát triển nông nghiệp.
Nhờ vậy, dân chúng nước Việt được sống trong no ấm, thanh bình. Vua Lý Thái Tông trị vì được 27 năm, đến năm Giáp Ngọ 1054 thì mất, thọ 55 tuổi.
Vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072): Thái tử Lý Nhật Tôn sinh ngày 25 tháng 02 năm 1023, lên ngôi năm 1054 ở tuổi 31, lấy hiệu là Lý Thánh Tông. Vừa mới lên ngôi, Vua Lý Thánh Tông đã đổi tên nước là Đại Việt.
Vua Lý Thánh Tông là vị vua có tấm lòng nhân từ, vị tha, nhân hậu, lấy “Nhân trị” làm kế sách trị nước an dân. Ông đặc biệt chú trọng công việc chính trị, lưu tâm đến việc phòng bị đất nước và phát huy thanh thế quân uy của mình đối với các nước láng giềng.
Năm 1070, Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và các vị tiên hiền để thờ nhằm khích lệ việc học hành khoa cử theo mô hình Nho giáo, Nho học.
Trong sự nghiệp chấn hưng đất nước của Vua Lý Thánh Tông còn có Nguyên phi Ỷ Lan, người có công lớn trong việc tạo dựng cơ đồ thịnh trị của Vương triều Lý và nước Đại Việt. Bà đã cùng Vua Lý Thánh Tông trị nước bằng lòng nhân ái.
Năm 1072, Vua Lý Thánh Tông băng hà, trị vì được 18 năm, thọ 50 tuổi.
Vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128): Thái tử Lý Càn Đức sinh ngày 25 tháng 01 năm 1066, là con trưởng của Vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan, lên ngôi năm 1072 khi mới bảy tuổi, hiệu là Lý Nhân Tông.
Vua Lý Nhân Tông với bản chất thông minh, dũng lược, lại được Thái hậu Ỷ Lan và các đại thần giỏi như Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành… hết sức phò giúp nên thế nước vững vàng, hưng thịnh. Triều đại của Vua Lý Nhân Tông gắn liền với ba sự kiện lớn ở nửa sau thế kỷ XI:
Năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên để tuyển chọn quan lại. Từ đây, đội ngũ quan lại chính quy dần thay thế đội ngũ quan lại quý tộc thế tập.
Năm 1076, lập Quốc Tử Giám ở phía sau Văn Miếu. Đây được xem là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.
Năm 1077, chỉ huy quân dân cả nước đập tan cuộc xâm lăng của nhà Tống, làm cho uy danh Đại Việt trở nên lừng lẫy.
Vua Lý Nhân Tông được lịch sử ghi nhận là một vị vua giỏi, một đấng minh quân của triều Lý. Tháng 01 năm 1128, Vua Lý Nhân Tông băng hà, thọ 62 tuổi, là vị vua nhà Lý trị vì lâu nhất: 56 năm.
Vua Lý Thần Tông (1128 - 1138): Vua Lý Nhân Tông không có con trai nên đã lập con của Hoàng đệ là Hùng Hiền Hầu Lý Dương Hoán làm Thái tử để kế vị ngôi Hoàng đế, tức Vua Lý Thần Tông.
Vua Lý Thần Tông vừa lên ngôi liền đại xá thiên hạ, trả lại ruộng tịch thu của quân dân ngày trước, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”: Cho binh lính đổi phiên 06 tháng một lần về làm ruộng. Do vậy, sản xuất nông nghiệp phát triển, đất nước yên bình, nhân dân no ấm. Vua Lý Thần Tông ở ngôi vị được 10 năm, hưởng dương 23 tuổi.
Vua Lý Anh Tông (1138 - 1175): Vua Lý Anh Tông là con trai thứ hai của Vua Lý Thần Tông, lên ngôi khi mới ba tuổi. Tuy nhiên, triều đình lúc đó có nhiều tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền… giúp vua đánh Đông dẹp Bắc, giữ thế nước yên bình, kén chọn người tài giỏi làm quan tướng coi quân trị dân. Bởi vậy, nước Đại Việt vẫn là một nước có binh hùng tướng mạnh.
Năm 1175, Vua Lý Anh Tông băng hà, thọ 40 tuổi, trì vì được 37 năm.
Vua Lý Cao Tông (1176 - 1210): Thái tử Lý Long Cán, con thứ của Vua Lý Anh Tông lên ngôi năm 1176, lúc đó mới ba tuổi, hiệu là Lý Cao Tông. Khi vua lên sáu tuổi thì Thái úy Tô Hiến Thành mất, triều đình bắt đầu suy. Khi trực tiếp cầm quyền trị nước, Vua Lý Cao Tông không đủ sức trấn áp nạn giặc cướp đang hoành hành vì thế mà chúng tha hồ cướp phá của dân, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc. Năm 1210, Vua Lý Cao Tông mất, trị vì được 35 năm, thọ 38 tuổi.
Vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224): Vua Lý Huệ Tông tên thật là Lý Sảm, con trai trưởng của Vua Lý Cao Tông, kế vị ngôi vua lúc 17 tuổi. Sinh thời, Vua Lý Huệ Tông không nắm giữ được thực quyền, không để ý đến quốc gia đại sự nên thế nước ngày càng suy. Vì không có con trai nên tháng 10 năm 1224, Vua Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái thứ hai là Công chúa Chiêu Thánh, khi đó mới tám tuổi rồi vào tu tại chùa Chân Giáo trong Đại nội. Ông mất năm 33 tuổi, trị vì được 14 năm.
Vua Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225): Chiêu Thánh Công chúa sinh vào tháng 09 năm 1218, lên ngôi năm 1224, tức Vua Lý Chiêu Hoàng.
Bấy giờ, có viên quan tên là Trần Thủ Độ giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ đã đưa một người cháu là Trần Cảnh vào hầu vua, sau đó phao tin là nhà vua đã lấy Trần Cảnh làm chồng. Ngày 11 tháng 12 năm 1225, Vua Lý Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An. Trước bá quan văn võ, Vua Lý Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, mời phu quân Trần Cảnh lên ngôi. Trần Cảnh chính thức trở thành Hoàng đế nước Đại Việt, đánh dấu một cuộc đổi ngôi không đổ máu, chấm dứt triều đại nhà Lý, mở đầu triều đại nhà Trần.
Lịch sử có những lúc thăng, lúc trầm nhưng tất cả những gì mà Vua Lý Thái Tổ và Vương triều Lý đã tạo lập nên mãi mãi được sử sách và nhân dân ghi nhận, khởi đầu là việc định đô, tạo nên lịch sử lâu đời của thủ đô Thăng Long - Hà Nội, góp phần tạo dựng truyền thống văn hiến, xây dựng đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Ý kiến (0)